Địa LýLớp 10

Vòng đai nóng trên trái đất có vị trí? | Địa Lý 10

Lời giải và đáp án chính xác nhất cho câu hỏi trắc nghiệm “Vòng đai nóng trên trái đất có vị trí?” kèm kiến thức tham khảo là tài liệu trắc nghiệm môn Sinh học hay và hữu ích.

Trắc nghiệm: Vòng đai nóng trên trái đất có vị trí?

A. Nằm từ chí tuyến Nam đến chí tuyến Bắc.

B. Nằm giữa các vĩ tuyến 5oB và 5oN.

Bạn đang xem: Vòng đai nóng trên trái đất có vị trí? | Địa Lý 10

C. Nằm giữa 2 đường đẳng nhiệt năm + 20oC.

D. Nằm giữa 2 đường đẳng nhiệt + 20oC của tháng nóng nhất.

Trả lời:

Đáp án đúng: C. Nằm giữa 2 đường đẳng nhiệt năm + 20oC.

Vòng đai nóng trên trái đất có vị trí nằm giữa 2 đường đẳng nhiệt năm + 20oC.

Cùng THPT Ninh Châu trang bị thêm nhiều kiến thức bổ ích cho mình thông qua bài tìm hiểu về Quy luật địa đới và quy luật phi địa đới dưới đây nhé.

Kiến thức tham khảo về Quy luật địa đới và quy luật phi địa đới

I. Quy luật địa đới

1. Khái niệm

– Là sự thay đổi có quy luật của tất cả các thành phần địa lí và cảnh quan địa lí theo vĩ độ.

– Nguyên nhân:

+ Do dạng hình cầu của Trái Đất

+ Bức xạ Mặt trời

2. Biểu hiện của quy luật

a) Sự phân bố các vòng đai nhiệt trên Trái Đất

Các vòng đai

Vị trí

Giữa các đường đẳng nhiệt

Khoảng vĩ tuyến

 

Nóng

200C của 2 bán cầu

300B đến 300N

 

Ôn hòa

200C và 100C của tháng nóng nhất

300 đến 600 ở cả hai bán cầu

 

Lạnh

Giữa 100 và 00 của tháng nóng nhất

Ở vòng đai cận cực của 2 bán cầu

 

Băng giá vĩnh cửu

Nhiệt độ quanh năm dưới 00C

Bao quanh cực

 

b) Các đai khí áp và các đới gió trên Trái Đất

– Các đai khí áp: Gồm 7 khí áp (áp thấp xích đạo, 2 áp thấp ôn đới, 2 áp cao cận chí tuyến, 2 áp cao cực).

– Các đới gió: Gồm 6 đới gió (2 mậu dịch, 2 ôn đới, 2 đông cực).

c. Các đới khí hậu trên Trái đất

Mỗi bán cầu có 7 đới khí hậu: xích đạo, cận xích đạo, nhiệt đới, cận nhiệt, ôn đới, cận cực, cực.

d. Các nhóm đất và các kiểu thảm thực vật:

+ Có 10 nhóm đất từ cực đến xích đạo.

+ Có 10 kiểu thảm thực vật từ cực đến xích đạo.

Tuân thủ theo quy luật địa đới.

II. Phạm vi biểu hiện của tính địa đới

Càng xa bề mặt Trái Đất (lên trên hay là xuống dưới), tính địa đới càng ngày càng yếu dần. Thí dụ, ở khu vực sâu thẳm của các đại dương, khắp nơi đều có nhiệt độ thường xuyên quá thấp (từ – 0,5°c đến 4°C), ánh sáng Mặt Trời không thâm nhập tới đó, thực vật ở đây không có, các khối nước hầu như ở tình trạng hoàn toàn yên lặng, nghĩa là ở đại dương không có những nguyên nhân gây ra sự xuất hiện và sự thay đồi của các đới. Có thể tìm thấy một vài dấu hiệu tượng trưng cho tính địa dới ở sự phân bổ các loại trầm tích biển: trầm tích san hô tương ứng với các vĩ độ nhiệt đới, bùn tảo cát ứng với các vĩ độ sần cực. Nhưng điều đó chỉ là sự phản ánh thụ động, ở đáy biên, của các quá trình địa đới, bởi vì các quá trình này vổn là đặc tính cùa bề mặt đại dương. Tàn dư cùa vỏ tảo cát và sản phẩm do cấu trúc san hô bị phá hùy nằm ờ dưới đáy biển không nói lên điều kiện sinh tồn cùa các sinh vật đó.

Tính địa đới cũng bị giảm đi ở các lớp cao của khí quyển. Nguồn năng lượng của khí quyển dưới thấp nhận được là từ bề mặt đất do Mặt Trời đốt nóng. Sự suy giảm nhiệt độ theo độ cao ở tầng đối lưu là do sự cách xa dần nguồn năng lượng căn bản là bề mặt đất. Giới hạn ảnh hưởng cùa nhiệt độ bề mặt đất tới tầng đối lưu ở độ cao khoảng 20km.

Càng đi sâu vào trong vỏ Trái Đất tính địa đới mất đi một cách nhanh chóng. Ở độ sâu khoảng 15 – 30m nhiệt độ đồng nhất trong năm và bằng nhiệt độ trung bình hàng năm cùa không khí địa phương, ơ dưới lớp có nhiệt độ không đổi này, càng xuống sâu nhiệt độ càng tăng. Ở đây, sự phân bố nhiệt độ không còn liên quan tới bức xạ Mặt Trời (là nguồn năng lượng cùa các quá trình địa đới) mà chi liên quan tới nguồn năng lượng ở trong lòng đất (là nguồn năng lượng duy trì các quá trình phi địa đới).

III. Biểu hiện của qui luật địa đới ở Việt Nam

Nước ta kéo dài trên 15 vĩ tuyến, nếu xét theo qui luật địa đới đúng ra là biểu hiện cùa nó không dáng kể và không rõ ràng, nhưng thực tế hoàn toàn ngược lại (chù yếu là do nước ta có các yếu tố tạo nên tính địa đới già là gió mùa đông bắc cùng với bức chắn địa hình). Nếu tính riêng về mùa hạ, nhiệt độ có sự dông nhât trên cả nước. Song nếu tính nhiệt độ trung bình cả năm thì sự phân hóa Băc – Nam là 0,36°C/1 vĩ tuyến. Đặc biệt về mùa đông, do ảnh hưởng cùa giỏ mùa mùa dông đã làm cho sự chênh lệch nhiệt độ giữa miền Bắc và miên Nam trở nên rât lớn, tới 9°C (tính theo nhiệt độ trung bình tháng 1).

Gió mùa đông bắc và thời tiết lạnh do nó gây ra cùng với tác động cùa bức chắn địa hình đà chia lãnh thổ nước ta thành hai đới cảnh quan mà ranh giới là đèo Hài Vân (vĩ tuyến 16°B): 

+ Phía bắc đèo Hải Vân là đới rừng gió mùa chí tuyến. Đới này lại được chia thành hai á đới lấy ranh giới là Đèo Ngang (giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình): phía Bắc đèo Ngang có ba tháng lạnh và khô với nhiệt độ trung bình dưởi 18°C, lượng mưa trung bình tháng nhỏ. Ở phía Nam đèo Ngang cho đến đèo Hải Vân mùa đông ngăn không đến ba tháng, các khu vực dồng bằng ven biển thì không còn tháng nào nhiệt độ dưới 18°C nữa.

+ Phía Nam đèo Hải Vân là đới rừng gió mùa á Xích đạo: không còn thời tiết lạnh và nhiệt độ trung bình tháng lớn hơn 20°C. Tại đây sự phân hóa theo qui luật địa đới lại phân hóa theo chế  độ ẩm. Người ta lấy ranh giới khoảng vĩ tuyến 14°B để chia đới này thành hai á đới: á đói phía Bắc vĩ tuyến 14°B có khí hậu tương đối ẩm, mùa khô ngắn và không sâu sắc do ảnh hưởng chắn cửa khối Kọm Turn; á đới phía Nam vĩ tuyến 14°B mùa khô sâu sắc, có thể kéo dài tới 5-6 tháng.

Đăng bởi: THPT Ninh Châu

Chuyên mục: Lớp 10, Địa lý 10

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button