Lịch SửLớp 12

Vì sao chính phủ các nước Anh, Pháp, Mĩ lại có thái độ nhượng bộ các lực lượng phát xít?

Trắc nghiệm: Vì sao chính phủ các nước Anh, Pháp, Mĩ lại có thái độ nhượng bộ các lực lượng phát xít?

A. Sợ các nước phát xít tiến công nước mình và muốn liên minh với phe phát xít 

B. Lo sợ trước sự lớn mạnh của Liên Xô và muốn tiến công Liên Xô

Bạn đang xem: Vì sao chính phủ các nước Anh, Pháp, Mĩ lại có thái độ nhượng bộ các lực lượng phát xít?

C. Đẩy chiến tranh về phía Liên Xô, đảm bảo lợi ích của nước mình

D. Cần thời gian để chuẩn bị chiến đấu chống cả chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa phát xít

Trả lời:

Đáp án đúng là C. Đẩy chiến tranh về phía Liên Xô, đảm bảo lợi ích của nước mình

Các chính phủ Anh, Pháp, Mĩ đều có chung một mục đích là giữ nguyên trật tự thế giới có lợi cho mình. Họ lo sợ sự bành trướng của chủ nghĩa phát xít, nhưng vẫn thù ghét chủ nghĩa cộng sản. Vì thế, giới cầm quyền các nước Anh, Pháp đã không liên kết chặt chẽ với Liên Xô để chống phát xít, trái lại họ thực hiện chính sách nhượng bộ phát xít hòng đẩy chiến tranh về phía Liên Xô.

Cùng THPT Ninh Châu tìm hiểu cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 133 tới các nước Anh, Pháp, Mĩ các em nhé!

1. Nguyên nhân cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933

– Cuộc đại khủng hoảng tài chính năm 1929 – 1933 bắt nguồn từ các nước tư bản bắt đầu việc chạy đua sản xuất hàng loạt hàng hóa, sản phẩm với số lượng lớn và mong đạt được lợi nhuận khổng lồ.

– Điều này dẫn tới tình trạng người dân không tiêu thụ hết dẫn tới ế thừa sản phẩm. Từ đó tạo nên sự mất cân bằng về cung cầu, tiền mất giá và tài chính đi xuống trầm trọng. Đồng thời, làm các quan hệ giữa các nước xấu đi nhiều, gây xích mích và tranh chấp tới quyền lợi.

– Về bản chất, cuộc khủng hoảng này xảy ra bởi các nước tư bản theo đuổi lợi nhuận, sản xuất hàng hóa một cách ồ ạt. Tuy nhiên, sức mua của người dân lại giảm sút bởi quần chúng quá nghèo khổ. Trái ngược với cuộc khủng hoảng rủi ro năm 1919 – 1924 – cuộc khủng hoảng thiếu.

– Cuộc khủng hoảng rủi ro này đã phản ánh chính xác những xích mích thâm thúy trong nội bộ phe đế quốc và căn bệnh của chủ nghĩa tư bản. Đây cũng là những điều mà khối hệ thống Véc-xai Oa-sinh-tơn không thể giải quyết và xử lý được.

2. Diễn biến cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933

– Vào tháng 09/1929, cuộc khủng hoảng kinh tế bắt đầu bùng nổ bắt nguồn từ nước Mỹ (đây là nước tư bản phát triển nhất thời điểm đấy). Do vậy, đây cũng là khủng hoảng lớn nhất thời điểm đó với sức tàn phá nặng nề khiến cho kinh tế nước Mỹ kiệt quệ, công nhân thất nghiệp, các cơ sở sản xuất phải đóng cửa. Lạm phát cao người dân khốn khổ, nghèo đói.

– Nước Mỹ chạy đua ồ ạt sản xuất các mặt hàng nhưng khó tiêu thụ, ế hàng tràn lan. Sản lượng công nghiệp bị giảm sút 50% vì trì trệ với gang thép giảm 75%, ôtô giảm 90%. Hàng loại xí nghiệp lớn phá sản, nông dân thất thu nghèo khổ.

– Cuộc khủng hoảng này cũng ảnh hưởng đến hàng loạt các nước tư bản khác. Hàng loạt các nước Anh, Pháp cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Pháp kéo dài khủng hoảng từ 1930 – 1936 với công nghiệp giảm 30%, nông nghiệp 40%, thu nhập quốc dân giảm 30%. Bên cạnh đó thì ở Anh, sản lượng gang năm 1931 cũng giảm sụt 50% , thép sụt gần 50% , thương nghiệp sụt giảm nặng nề 60%. Nước Đức, đến năm 1930, sản lượng công nghiệp cũng giảm nghiêm trọng 77%. Không những thế, các nước Ba Lan, Ý, Ru-ma-ni, Nhật, … đều có những khủng hoảng kinh tế.

– Các nhà tư bản lựa chọn giải pháp thà đổ hàng, tiêu hủy chứ không bán giá rẻ hạn chế lạm phát vẫn không ăn thua. Tư bản đánh sưu thuế tăng cao để bù lỗ càng khiến nhân dân lầm than, oán thán.

a. Tại Mỹ 

– Tháng 9/1929 cuộc rủi ro tài chính bắt đầu phát triển chóng mặt bắt nguồn từ nước Mỹ. Và đây là cuộc khủng hoảng lớn số 1 thời điểm lúc đó với sức tàn phá nặng nề khiến tài chính nước Mỹ kiệt quệ, cơ sở sản xuất đóng cửa, công nhân thất nghiệp. Điều này dẫn tới mức lạm phát cao và người dân càng nghèo đói, khốn khổ.

– Nước Mỹ, chạy đua với việc sản xuất ồ ạt các mặt hàng nhưng khó tiêu thụ, và tình trạng ế hàng tràn lan. Sản lượng công nghiệp bị giảm sút tới 50%, gang thép giảm 75%, ô tô giảm 90%,… Hàng loạt các xí nghiệp lớn phá sản và nông dân thất thu nghèo khó.

– Tính tới năm 1933 có tới 17 triệu người đã thất nghiệp, các xí nghiệp, công ty bị phá sản và nông dân phải bỏ ruộng tha phương. Các cuộc bạo loạn diễn ra ở khắp nơi để giành giật sự sống.

b. Tại các quốc gia khác

– Cuộc rủi ro khủng hoảng này có tác động và ảnh hưởng hàng loạt tới các nước tư bản khác. Hàng loạt các nước Pháp, Anh cũng sẽ tác động ảnh hưởng nghiêm trọng. Pháp kéo dài giãn cách, rủi ro khủng hoảng từ năm 1930 – 1936 với công nghiệp giảm 30%, nông nghiệp giảm 40% và tổng thu nhập quốc dân giảm 30%.

– Năm 1931, ở Anh sản lượng gang cũng bị sụt giảm nặng nề 50%, thép sụt gần 50% và thương nghiệp sụt giảm nặng nề 60%. 

– Năm 1930 tại Đức, sản lượng công nghiệp giảm 77%, và các nước Ý, Ba Lan, Nhật, Rumani,… đều phải chịu phải khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Và các nhà tư bản đã lựa chọn giải pháp thà đổ hàng và tiêu hủy đi chứ không bán giá rẻ để hạn chế mức lạm phát mà vẫn không ăn thua. Tư bản cũng đánh sưu thuế tăng cao nhằm bù lỗ càng khiến nhân dân oán thán, lầm than.

3. Đặc điểm cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933

– Cuộc khủng hoảng kinh tế tầm thế giới thực chất là sự tham lam, tàn độc của đế quốc và thực dân. Dẫn tới cảnh người dân khốn cùng, điêu đứng rồi buộc phải nổi dậy đấu tranh giành lại cuộc sống. Từ đó khiến cho mâu thuẫn trong nội bộ quốc gia và giữa các nước bùng cháy, khởi nguồn cho cuộc chiến tranh thế giới mới.

– Cuộc khủng hoảng kéo dài tận 4 năm và để lại nhiều hậu quả tàn phá đất nước và kinh tế nặng nề. Sau đó các nước phải mất nhiều năm cố gắng để phục hồi mọi thứ.

4. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933

– Khủng hoảng kinh tế kéo dài nhiều năm ở tất cả các mặt dẫn tới sự tiêu điều của cả đất nước. Các nước tư bản nội bộ lục đục và sục sôi nảy sinh nhiều ý đồ xấu để giúp kinh tế phục hồi và phát triển hơn.

– Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 đến 1933 khiến mâu thuẫn giữa giai cấp tư bản và vô sản, giữa người nông dân và địa chủ cực kỳ gay gắt. Vì thế đã dẫn tới cao trào cách mạng, bọn tư bản đàn áp khốc liệt nên người dân kịch liệt chống đối. Các cuộc bạo loạn xảy ra khắp nơi.

– Đồng thời, khủng hoảng kinh tế cũng làm cho mâu thuẫn giữa các nước đế quốc căng thẳng về nhằm nhò tài nguyên, đất đai và tài sản của nhau. Các nước đế quốc tích cực đẩy mạnh chuẩn bị chiến tranh chia lại thế giới. Đây là ngòi nổ châm bùng lên ngọn lửa chiến tranh thế giới thứ hai.

– Trong bối cảnh đó, Anh, Pháp tích thực hiện cải cách kinh tế, xã hội. Đức, I-ta-li-a, Nhật Bản tiến hành phát xít hóa chế độ cai trị và phát động chiến tranh.

– Nước Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề vì bọn thực dân tăng cường bóc lột nhân dân, tăng sưu thuế, cướp bóc, chèn áp khiến kinh tế trở nên kiệt quệ. Pháp rút vốn đầu tư ở Đông Dương về nên sản xuất ở Việt Nam đình trệ, ruộng đất bỏ hoang. Đời sống nhân dân lâm vào cảnh khốn cảnh.

5. Hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933

– Thời kỳ rủi ro khủng hoảng tài chính thừa từ năm 1929 – 1933 khiến đời sống nhân dân cực khổ. Nó tác động và ảnh hưởng tới nạn thất nghiệp và tiền lương bị giảm sút đáng kể, nhân dân nổi dậy đấu tranh.

a. Nạn thất nghiệp

– Năm 1933, tại Mỹ có 17 triệu người thất nghiệp với vô số nông dân bị phá sản và phải bỏ ruộng vườn đi ra thành phố sống lang thang. Tại Anh có 3 triệu người bị thất nghiệp và các nước tư bản khác cũng xảy ra các tình trạng tương tự.

b. Tiền lương giảm xuống 

– Lương công nhân tại nước Mỹ chỉ từ 56% và tại nước Anh giảm còn 66%, nước Pháp giảm từ 30 – 40%. Đồng thời, giá đồng bạc sụt xuống cũng làm cho tiền lương thực tế bị giảm sút khá nhiều.

– Mức sống của người dân cũng bị giảm xuống 2.7 lần ở Pháp và nhiều người dân bị phá sản. Vì thế, đời sống của nhân dân lao động vô cùng cực khổ. Năm 1931, riêng thành phố New York Mỹ có hàng nghìn người đã bị chết vì nạn đói.

c. Cuộc đấu tranh của người dân

– Nhân dân và công nhân lao động đã nổi dậy để đấu tranh bởi cuộc sống quá khổ cực và đẩy tới đường cùng. 

– Năm 1930 tại Mỹ, có 2 vạn công nhân thị uy

– Năm 1929 – 1933, có 3.5 triệu công nhân tham gia bãi công

– Năm 1930 tại Đức, có 15 vạn công nhân bãi công, và năm 1933 có 35 vạn công nhân mỏ bãi công.

6. Đánh giá về cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933

– Có thể thấy rằng cuộc rủi ro khủng hoảng tài chính năm 1929 đến 1933 là cuộc rủi ro khủng hoảng lớn số 1 trong những cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra từ xưa tới nay. Khủng hoảng rủi ro này đã khiến cho những xích mích trong xã hội tư bản ngày càng gay gắt hơn, và chủ nghĩa tư bản thế giới ngày càng suy yếu.

a. Ngành nghề tài chính

– Cuộc khủng hoảng, rủi ro tài chính từ 1929 – 1933 khiến tài chính bị tàn phá nặng nề không riêng các nước tư bản mà còn các nước phụ thuộc và thuộc địa. Hàng loạt các xí nghiệp sản xuất, doanh nghiệp, cửa hàng đóng cửa, nông dân mất ruộng đất, lang thang nghèo đói.

b. Ngành nghề xã hội – chính trị

– Tài chính rủi ro khủng hoảng khiến chính trị, xã hội bất ổn với những cuộc biểu tình, đấu tranh liên miên. Cuộc sống không bình yên và khắp nơi oán thán, căm phẫn.

c. Quan hệ quốc tế

– Hình thành 2 khối đế quốc đối đầu với nhau, một bên là Anh, Pháp, Mỹ và một bên là Nhật Bản, Đức, Italy. Các nước tăng cường chạy đua với vũ trang ráo riết và sẵn sàng cho trận đánh chiến tranh thế giới mới chia lại thị trường.

7. Cuộc rủi ro tài chính năm 1929 – 1933 có ảnh hưởng gì tới Việt Nam

– Có thể nhận thấy giai đoạn 1929 – 1933 các nước chủ nghĩa tư bản nói chung và Pháp nói riêng thì đều chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng, trong thời gian này Việt Nam đang là thuộc địa của Pháp, do vậy cũng không thể thoát khỏi những ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng, nước nhà gặp khung hoảng vì vậy mà Pháp đẩy mạnh việc bóc lột ở các nước thuộc địa của mình.

– Cụ thể cuộc khủng hoảng đã ảnh hưởng đến nền kinh tế nước ta như sau:

+ Thực dân Pháp rút vốn đầu tư ở Đông Dương, đồng thời dùng ngân hàng Đông Dương để hỗ trợ cho tư bản Pháp, điều này đã khiến ngành công nghiệp sản xuất ở Việt Nam rơi vào tình trạng thiếu vốn dẫn đến đình trệ.

+ Lúa gạo trên thị trường bị mất giá, khiến lúa gạo Việt Nam không thể xuất khẩu, dần dần ruộng đồng rơi vào tình trạng bị bỏ hoang. Những điều này đã làm cho đời sống của đại bộ phận nhân dân Việt Nam lâm vào cảnh khó khăn khốn cùng.

+ Công nhân thất nghiệp ngày càng đông, những người có việc làm thì tiền lương cũng bị giảm từ 30 đến 50%.

+ Nông dân tiếp tục bị bần cùng hoá và phá sản trên quy mô lớn.

+ Tiểu tư sản lâm vào cảnh điêu đứng: Nhà buôn nhỏ đóng cửa, viên chức bị sa thải, học sinh, sinh viên ra trường bị thất nghiệp.

+ Một bộ phận lớn tư sản dân tộc lâm vào cảnh khó khăn do không thể buôn bán và sản xuất.

– Không những thế, thực dân Pháp còn tăng sưu thuế lên gấp 2, 3 lần cùng với việc đẩy mạnh các chính sách khủng bố trắng nhằm dập tắt phong trào cách mạng Việt Nam… Có thể thấy cuộc sống của người dân Việt Nam khốn khổ đến tột cùng.

Đăng bởi: THPT Ninh Châu

Chuyên mục: Lớp 12, Lịch Sử 12

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button