Lịch SửLớp 11

Tóm lược các giai đoạn phát triển của khởi nghĩa Yên Thế từ năm 1884 đến 1913

Câu hỏi: Tóm lược các giai đoạn phát triển của khởi nghĩa Yên Thế từ năm 1884 đến 1913

Lời giải: 

Diễn biến:

Bạn đang xem: Tóm lược các giai đoạn phát triển của khởi nghĩa Yên Thế từ năm 1884 đến 1913

1884 – 1892: dưới sự chỉ huy của Đề Nắm, nghĩa quân đẩy lùi nhiều cuộc tấn công của giặc Pháp.

1893 – 1897: do Đề Thám lãnh đạo, hai lần tạm hòa với Pháp, nghĩa quân làm chủ 4 tổng ở Bắc Giang (Nhã Nam, Mục Sơn, Yên Lễ, Hữu Thượng).

1898 – 1908: 10 năm hòa hoãn, sản xuất luyện tập quân sự, hội tụ những nghĩa sĩ yêu nước.

1909 – 1913: Pháp ra sức tấn công, nghĩa quân di chuyển nhiều nơi. Tháng 2/1913, Đề Thám bị sát hại, khởi nghĩa tan rã.

Cùng THPT Ninh Châu tìm hiểu về khởi nghĩa Yên Thế nhé!

1. Nguyên nhân dẫn đến cuộc khởi nghĩa Yên Thế

– Để mở rộng phạm vi chiếm đóng, Pháp cướp đất của người nông dân ở Yên Thế làm đồn điền, khai mỏ, làm đường giao thông.

– Kinh tế nông nghiệp sa sút, đời sống nhân dân Bắc Kì khó khăn, một bộ phận phải phiêu tán lên Yên Thế, họ sẵn sàng nổi dậy đấu tranh.

=> Với tinh thần yêu nước và để bảo vệ cuộc sống, nông dân Yên Thế đứng lên đấu tranh.

2. Diễn biến khởi nghĩa Yên Thế

* Giai đoạn thứ nhất, từ 1884 – 1892:

– Tại vùng Yên Thế có hàng chục toán quân chống Pháp hoạt động riêng lẻ, đặt dưới sự chỉ huy của các thủ lĩnh khác nhau, thủ lĩnh có uy tín nhất lúc đó là Đề Nắm.

– Năm 1891, nghĩa quân của Đề Nắm làm chủ một vùng rộng lớn và mở rộng hoạt động sang Phủ Lạng Thương (vùng thành phố Bắc Giang ngày nay).

– Tháng 3-1892, Pháp huy động quân, ồ ạt tấn công vào căn cứ của nghĩa quân. Lực lượng nghĩa quân bị tổn thất nặng, nhiều người bị địch bắt và giết hại, một số phải ra hàng.

* Giai đoạn thứ hai (1893- 1908): nghĩa quân vừa chiến đấu vừa xây dựng cơ sở.

– Nghĩa quân đã chiến đấu quyết liệt, buộc kẻ thù hai lần phải giảng hòa và nhượng bộ một số điều kiện có lợi cho ta.

– Lần giảng hòa thứ nhất: sau khi bắt được tên điền chủ người Pháp – Sét-nay. Đề Thám đã thỏa thuận với Pháp, nghĩa quân đã thả tên điền chủ, trong khi đó Đề Thám phải được cai quản 4 tổng: Nhã Nam, Mục Sơn, Yên Lễ và Hữu Thượng.

– Đặc biệt trong thời kì giảng hòa lần thứ hai (12- 1897) Đề Thám cho sản xuất ở Phồn Xương, tích lũy lương thực, xây dựng quân đội, sẵn sàng chiến đấu. Nhiều nhà yêu nước đã tìm đến như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh

* Giai đoạn thứ ba từ 1898 – 1908:

– Tranh thủ thời gian hòa hoãn, Đề Thám cho nghĩa quân vừa sản xuất, vừa tích cực luyện tập quân sự chuẩn bị chiến đấu.

– Căn cứ Yên Thế trở thành nơi tụ hội của những nghĩa sĩ yêu nước từ khắp nơi kéo về (từ Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Hưng Yên, Hải Dương…)

* Giai đoạn thứ tư từ 1909 – 1913:

– Nội năm 1908, thực dân Pháp mở cuộc tấn công nhằm tiêu diệt bằng được phong trào nông dân Yên Thế.

– Tháng 2-1913, khi Đề Thám bị sát hại, phong trào tan rã.

3. So sánh phong trào Cần Vương và khởi nghĩa Yên Thế

 Những khác biệt

 Khởi nghĩa Yên Thế 

 Các cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương: Ba Đình , Bãi Sậy, Hương Khê

 Thời gian tồn tại

 Gần 30 năm từ 1884-1913

 Lâu nhất là Hương Khê từ 1885-1895

Thành phần lãnh đạo

Do thủ lĩnh địa phương lãnh đạo như  Đề Nắm , Đề Thám –họ là những nông dân .

 Do văn thân sĩ phu phát động, chịu ảnh hưởng phong kiến

 Mục tiêu đấu tranh

 Mong cuộc sống bình yên .

 Vì vua, giành lại chủ quyền  đất nước

– Ý nghĩa: là trang sử vẻ vang của dân tộc, chứng minh khả năng hùng hậu của nông dân trong lịch sử chống Pháp xâm lược.

Đăng bởi: THPT Ninh Châu

Chuyên mục: Lớp 11, Lịch Sử 11

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button