Lịch SửLớp 12

Tại sao Đức kí hiệp ước Xô – Đức không xâm phạm lẫn nhau với Liên Xô?

Trắc nghiệm: Tại sao Đức kí hiệp ước Xô – Đức không xâm phạm lẫn nhau với Liên Xô?

A. Đức nhận thức không đánh thắng nổi Liên Xô

B. Đức sợ bị liên quân Anh – Pháp tiến công sau lưng khi đang đánh Liên Xô

Bạn đang xem: Tại sao Đức kí hiệp ước Xô – Đức không xâm phạm lẫn nhau với Liên Xô?

C. Đề phòng chiến tranh bùng nổ phải chống lại cả ba cường quốc trên hai mặt trận

D. Liên Xô không phải là mục tiêu tiến công của Đức

Trả lời:

Đáp án C. Đề phòng chiến tranh bùng nổ phải chống lại cả ba cường quốc trên hai mặt trận

Trước khi khai ngòi bùng nổ Chiến tranh thế giới thứ hai, Đức đã đề nghị đàm phán với Liên Xô để phòng khi chiến tranh bùng nổ phải chống lại ba cường quốc trên cả ba mặt trận (Anh, Pháp ở phía Tây và Liên Xô ở phía Đông). Liên Xô chủ trương đàm phán với Đức, vì đây là giải pháp tốt nhất để tránh một cuộc chiến tranh để bảo vệ quyền lợi quốc gia trong tình thế bị cô lập lúc bấy giờ. Bản Hiệp ước Xô – Đức không xâm phạm lẫn nhau được kí kết ngày 23-8-1939.

Cùng THPT Ninh Châu tìm hiểu thêm về hiệp ước Xô – Đức các em nhé!

I. Bối cảnh lịch sử trước khi ra đời hiệp ước Xô – Đức

1. Tình hình thế giới

Đức đang chuẩn bị tấn công Ba Lan và muốn tránh chiến đấu trên hai mặt trận: phía Tây chống Anh-Pháp và phía Đông chống Liên Xô. Hơn nữa, Đức cũng muốn tăng cường ngoại thương với Liên Xô để bù đắp cho sự phong tỏa của Đồng minh trên mặt biển.

Liên Xô muốn đẩy lùi chiến tranh nhưng vấp phải sự cản trở của các nước phương Tây do họ đã ký với nước Đức Quốc xã hiệp ước Munchen năm 1938. Mặc dù tiềm lực kinh tế quốc phòng đã được củng cố một bước nhưng về vấn đề cán bộ lại đang gặp khó khăn sau đợt thanh trừng của Joshep Stalin những năm 1936-1938. Mục đích của Liên Xô là hòa hoãn với Anh-Pháp để cùng chống Đức, nếu không đạt được mục tiêu này thì có thể hòa hoãn với Đức để tránh chiến tranh.

Anh – Pháp luôn đánh giá thấp tiềm lực quân sự của Liên Xô, và nhất là Anh luôn nghi kỵ Liên Xô. Thủ tướng Anh Neville Chamberlain ghi trong nhật ký của mình: “Tôi xin thú thực rằng tôi rất nghi ngờ nước Nga”. Vì thế, họ thường tỏ ra thờ ơ mỗi khi Liên Xô đề nghị cùng hợp lực chống Đức. Việc này vô hình trung đẩy Liên Xô phải đàm phán với nước Đức Quốc xã vì nền an ninh của mình.

Ba Lan đang có tranh chấp với Đức về vấn đề lãnh thổ thuộc Đông Phổ trước đây và đã chuẩn bị sắn chiến tranh với Đức. Nhưng nước này cũng nghi kỵ Liên Xô (trong quá khứ thời trung cổ, 2 nước đã nhiều lần xâm lược lẫn nhau) nên không muốn Liên Xô mang quân qua lãnh thổ của họ để chống lại Đức. Vì việc này, liên minh Nga-Anh-Pháp nhằm bảo vệ Ba Lan khó thành hiện thực.

Tháng 5/1935, hai hiệp ước được Liên Xô ký kết với Anh và Pháp. Tuy nhiên, tổng thống Tiệp Khắc đã từ chối thi hành hiệp ước này. Còn đối với người Pháp, mặc dù các thỏa ước khung đã được ký kết nhưng họ vẫn không chịu ký với Liên Xô một hiệp định chung giữa bộ tham mưu quân đội hai nước để cùng nhau chống nước Đức Quốc xã.

Trong các năm 1936-1937, Liên Xô đã giúp đỡ những người Cộng hòa Tây Ban Nha chống lại chế độ Franco được Hitler bảo trợ nhưng lại không được Anh, Pháp ủng hộ tích cực. 

Ngày 1 tháng 3 năm 1938, nước Đức Quốc xã thôn tính Cộng hòa Áo mà không cần nổ một phát súng. Tháng 8 năm 1938, quân đội Đức tập trung 30 sư đoàn quanh biên giới Tiệp Khắc. Đáng lẽ phải thành lập một mặt trận chung chống nước Đức Quốc xã thì Anh – Pháp lại nhận lời mời tham gia Hội nghị Munchen giữa tứ cường Anh, Đức, Pháp, Ý. Kết quả của hội nghị này là một hiệp ước không xâm lược lẫn nhau được ký giữa bốn nước này ngày 30 tháng 9 mà không hề đếm xỉa đến Hiệp ước tương trợ giữa Anh và Pháp với chính phủ Tiệp Khắc của tổng thống Benet. Ngày 6 tháng 12 năm 1938, Pháp tuyên bố từ bỏ Hiệp ước tương trợ với Liên Xô để ký với Đức bản tuyên bố thừa nhận hiệu lực hoàn toàn của Hiệp định Munich 1938. Bằng Hiệp định Munich, Anh và Pháp đã thừa nhận việc Đức Quốc xã thôn tính nước Áo là việc đã rồi, cho phép Hitler đánh chiếm xứ Bohemia và Moravia, chia cắt Tiệp Khắc; đặt Ba Lan và cả Liên Xô trước nguy cơ xâm lược của nước Đức Quốc xã. 

Hiệp định Munich vào năm do 1938 Thủ tướng Anh Neville Chamberlain và Thủ tướng Pháp Édouard Daladier đã ký Hiệp ước Munich với nhà lãnh đạo Đức Quốc xã Adolf Hitler. Tháng 4 năm 1939, để cứu vãn nền an ninh tập thể của châu Âu, Liên Xô mở các cuộc thương lượng với Anh và Pháp, tìm kiếm một hiệp định tương trợ thật sự với các nước Tây Âu và Đông Âu.

Các nước Đức, Ý, Nhật ký kết với nhau tại Berlin bản “Hiệp ước chống quốc tế cộng sản” ngày 27 tháng 9 năm 1940. Toàn bộ tình hình trên đã buộc chính phủ Liên Xô phải có những hành động kiên quyết trong việc tìm con đường để đảm bảo cho nền anh ninh đất nước. Ngày 20/8/1936 khi thấy không còn biện pháp ngoại giao nào khác để đẩy lùi chiến tranh; ngày 23 tháng 8 năm 1939, Nhà nước Liên Xô mới cử ngoại giao V. M. Molotov dẫn đầu đón tiếp phái đoàn Đức của Ribbentrop tại Moskva để đàm phán với Đức

2. Các cuộc đàm phán

a. Cuộc đàm phán giữa Liên Xô và Đức

Ngày 24 tháng 7, cố vấn đặc biệt về Chính sách kinh tế đối ngoại đối với phương Đông của Văn phòng Đế chế Karl Julius Schnurre đã có cuộc hội đàm với phái viên phụ trách các vấn đề đối ngoại của Liên Xô G. I. Astakhov.

Sau khi thảo luận về các vấn đề kinh tế hiện tại, hai bên đã vạch ra một kế hoạch để cải thiện quan hệ về chính trị giữa Đức và Liên Xô . Kế hoạch của Đức bao gồm:

– Một là tiến hành việc ký kết hợp đồng tín dụng thương mại theo thông lệ.

– Hai là thiết lập các mối quan hệ trong lĩnh vực báo chí và hợp tác văn hóa, tạo một bầu không khí tôn trọng lẫn nhau

– Ba là thiết lập quân hệ hữu nghị về chính trị. Điều này được Schnurre lưu ý rằng những nỗ lực liên tục của Đức để nâng cao quan hệ này đã vượt qua Liên Xô.

b. Cuộc đàm phán giữa Liên Xô với Anh, Pháp

Cuộc đàm phán chính trị bắt đầu từ ngày 10 tháng 4. Kết quả của nó là bản dự thảo của Liên Xô ngày 2 tháng 6 kêu gọi các bên ký kết hiệp định về một Liên minh quân sự có hiệu lực trong các trường hợp sau đây:

Trong trường hợp có một cuộc tấn công của Đức vào một trong các cường quốc châu Âu tham gia ký kết hiệp định.

Trong trường hợp chống lại sự xâm lược của Đức và Thổ Nhĩ Kỳ đối với các nước Bỉ, Ba Lan, Latvia, Estonia, Hy Lạp, Romania và Phần Lan. Tất cả các bên ký kết hiệp định có trách nhiệm thực hiện sứ mạng bảo hộ này;

Trong trường hợp một bên tham gia Hiệp định lâm vào cuộc chiến với một quốc gia khác, yêu cầu có sự hỗ trợ, cung cấp của các nước tham gia liên minh tay ba.

3. Nguyên nhân cơ bản dẫn tới hiệp ước

– Đức đang chuẩn bị tấn công Ba Lan và muốn tránh chiến đấu trên hai mặt trận: phía Tây chống Anh-Pháp và phía Đông chống Liên Xô. Hơn nữa, Đức cũng muốn tăng cường ngoại thương với Liên Xô để bù đắp cho sự phong tỏa của Đồng minh trên mặt biển.

– Liên Xô muốn đẩy lùi chiến tranh nhưng vấp phải sự cản trở của các nước phương Tây do họ đã ký với nước Đức Quốc xã hiệp định Munchen. Mặc dù tiềm lực kinh tế quốc phòng đã được củng cố một bước nhưng về vấn đề cán bộ lại đang gặp khó khăn sau đợt thanh trừng đẫm máu của Josef Stalin những năm 1936-1938. Mục đích của Liên Xô là hòa hoãn hoặc với Anh-Pháp để cùng chống Đức hoặc với Đức để tránh chiến tranh.

– Anh-Pháp luôn đánh giá thấp tiềm lực quân sự của Liên Xô, và nhất là Anh luôn nghi kỵ Liên Xô. Thủ tướng Anh Neville Chamberlain ghi trong nhật ký của mình: “Tôi xin thú thực rằng tôi rất nghi ngờ nước Nga”. Vì thế, họ thường tỏ ra thờ ơ mỗi khi Liên Xô đề nghị cùng hợp lực chống Đức. Việc này vô hình chung đẩy Liên Xô phải đàm phán với nước Đức Quốc xã vì nền an ninh của mình.

– Ba Lan cũng nghi kỵ Liên Xô (trong quá khứ Ba Lan đã nhiều lần bị người Nga xâm lược) nên không muốn Liên Xô mang quân qua lãnh thổ của họ để chống lại Đức. Vì việc này, liên minh Nga-Anh-Pháp nhằm bảo vệ Ba Lan khó thành hiện thực.

II. Nội dung hiệp ước không xâm phạm Xô – Đức

1. Hoàn cảnh ra đời hiệp ước

Sau khi Hitler xé bỏ hiệp ước Muynich, thôn tính toàn bộ Tiệp Khắc, Liên Xô đã đề nghị triệu tập một hội nghị để bàn về vấn đề bảo vệ an ninh châu Âu, ngăn chặn chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa phát xít. Trước áp lực mạnh mẽ của dư luận trong và ngoài nước, chính phủ Anh, Pháp đã bắt đầu các cuộc đàm phán với Liên Xô từ giữa tháng 4 -1939 tại Matxcơva. Do thái độ thiếu thiện chí và chủ trương “bắt cá hai tay” của Anh, Pháp, cuộc đàm phán không đạt được kết quả và hoàn toàn bế tắc. Trong khi đó, từ tháng 6 – 1939, cuộc đàm phán bí mật Anh – Đức đã được tiến hành ở Luân Đôn để thảo luận về việc hợp tác Anh – Đức chống Liên Xô, Trung Quốc và phân chia khu vực ảnh hưởng ở đây.

Lúc này ở Viễn Đông, sau khi cuộc xung đột quân sự chống Liên Xô ở khu vực hồ Khaxan bị thất bại, ngày 12 – 5 – 1939 phát xít Nhật mở cuộc tấn công vào khu vực sông Khalkhin-Gol, nhằm uy hiếp con đường huyết mạch của Liên Xô ở Viễn Đông và chuẩn bị cho việc mở rộng cuộc chiến chống Liên Xô sau này. Mặc dù kế hoạch của Nhật ở Khankhin – Gôn thất bại nhưng toàn bộ những sự kiện diễn ra ở Viễn Đông làm cho giới cầm quyền Anh và Pháp vẫn hy vọng về một cuộc chiến tranh chống Liên xô từ phía Nhật. Chính trong lúc này Đại sứ Anh ở Tôkiô Craigi đã kí với Ngoại trưởng Nhật Arita một hiệp ước (7 – 1939), theo đó Anh thừa nhận cuộc chiến tranh của Nhật ở Trung Quốc và tuyên bố không can thiệp vào công việc của Nhật ở đây.

Tình hình phức tạp nói trên ở cả phương Tây và phương Đông khiến cho mọi cố gắng kiên trì của Liên Xô nhằm đạt tới một thoả thuận với Anh và Pháp trong cuộc đấu tranh chống sự xâm lược của chủ nghĩa phát xít đều thất bại. Trong bối cảnh đó, Liên Xô buộc phải có những giải pháp kiên quyết để tự bảo vệ nền an ninh quốc gia. Ngay từ tháng 5 – 1939 với ý đồ kéo dài thời gian để xâm lược châu Âu trước, Chính quyền Đức đã thăm dò Liên Xô về khả năng kí kết một hiệp ước không xâm lược nhau Xô – Đức. Lúc đầu Liên Xô đã bác bỏ đề nghị đó, nhưng sự tan vỡ không thể cứu vãn nổi của cuộc đàm phán Xô – Anh – Pháp đã khiến Liên Xô thay đổi ý định và tiếp nhận đề nghị của Đức.

Ngày 23/8/1939, Hiệp ước không xâm lược nhau Xô – Đức đã được kí kết giữa Ngoại trưởng Vyacheslav Mikhailovich Molotov đại diện cho Liên Xô và Ngoại trưởng Joachim von Ribbentrop đại diện cho Đức Quốc xã. Hiệp ước Xô-Đức, còn được gọi là Hiệp ước Molotov-Ribbentrop hay Hiệp ước Hitler-Stalin có tên chính thức là Hiệp ước không xâm lược lẫn nhau giữa Đức và Liên bang Xô viết  . Nghị định thư bí mật đính kèm Hiệp ước quy định các nước Phần Lan, Estonia, Latvia, Litva, và România thuộc “vùng ảnh hưởng của Liên Xô”. Ngoài ra, Đức chấp thuận việc Liên Xô thu hồi lại Tây Ukraine và Tây Byelorussia.

2. Nội dung trọng tâm của hiệp ước

Hiệp ước như được phổ biến quy định rằng bên này sẽ không tấn công bên kia. Nếu một bên trở thành “đối tượng của hành động thù địch” do bên thứ ba gây ra, bên kia sẽ “không hỗ trợ cho bên thứ ba bằng bất cứ cách nào.” Cả Đức và Liên Xô sẽ không “gia nhập bất kỳ phe nhóm nào trực tiếp hoặc gián tiếp nhắm đến bên kia”.

Ngôn từ của những điều khoản chủ chốt hầu như giống y bản thảo của Nga mà Molotov đã trao cho Schulenburg ngày 19 tháng 8 và Hitler điện cho Stalin biết phía Đức chấp thuận. Bản thảo của Nga quy định rằng hiệp ước không xâm lược chỉ có hiệu lực nếu một “nghị định thư đặc biệt” được ký kết cùng lúc và là một phần không thể thiếu của hiệp ước.

Ribbentrop muốn đưa vào phần mở đầu nhấn mạnh sự thành lập quan hệ hữu nghị Liên Xô-Đức, nhưng Stalin nhất quyết loại bỏ. Nhà độc tài Liên Xô phàn nàn rằng “Chính phủ Xô Viết không thể bất thình lình đưa ra cho công chúng sự cam kết về tình hữu nghị sau khi đã bị Quốc xã bôi tro giát trấu trong sáu năm.”

Thế là, cuối cùng Hitler đã đạt đến điều ông mong muốn: Liên Xô đồng ý không tham gia với Anh và Pháp nếu hai nước này hỗ trợ Ba Lan.

3. Nghị định thư Phụ lục Bí mật

“Nghị định thư Phụ lục Bí mật” cho hiệp ước, mà chỉ được biết đến sau khi đệ Nhị Thế Chiến kết thúc vào lúc các tài liệu mật của Đức bị tịch thu. Trong Phụ lục bí mật này 2 nước đồng ý chia Ba Lan, các nước Baltic và Bessarabia, gồm có 4 điểm sau:

– Trong trường hợp có sự chuyển biến về lãnh thổ và chính trị ở những quốc gia vùng Baltic (Phần Lan (trước đó cũng được xem là thuộc những nước này), Estonia, Latvia, Litva), biên giới phía bắc của Litva sẽ thể hiện biên giới giữa các vùng ảnh hưởng của Đức (Litva) và Cộng hòa Liên bang Xô viết (Estonia, Latvia, Phần Lan).

– Trong trường hợp có sự chuyển biến về lãnh thổ và chính trị ở những lãnh thổ thuộc Ba Lan, các vùng ảnh hưởng của Đức và Cộng hòa Liên bang Xô viết sẽ được phân định ranh giới phỏng chừng bằng các con sông Narew, Wisla và San.

– Ở đông-nam châu Âu, Bessarabia sẽ thuộc vùng ảnh hưởng của Liên Xô.

– “Nghị định thư này sẽ được hai bên xem là tối mật.”

Đức và Nga đã đồng ý phân chia ranh giới tại Ba Lan, theo đó vùng phía Tây là toàn quyền của Đức, còn vùng phía Đông (những lãnh thổ mà Ba Lan đã chiếm của Nga năm 1921) sẽ được hoàn trả cho Liên Xô. Và Hitler đã cho Nga được toàn quyền hành động ở vùng đông Baltic.

Cuối cùng, ở đông-nam châu Âu, phía Liên Xô nhấn mạnh họ quan tâm đến Bessarabia, lãnh thổ mà Liên Xô mất về tay Rumani năm 1919, và Đức tuyên bố họ không quan tâm đến lãnh thổ này. Đây là nhượng bộ mà sau này Đức sẽ lấy làm hối tiếc: họ mất nguồn dầu hỏa quan trọng.

4. Ý nghĩa hiệp ước

Hiệp định không xâm phạm Xô – Đức, được ký vào ngày 23 tháng 8 năm 1939, là bản hiệp định mở đường cho cuộc xâm lược của Đức cho việc chiếm đóng Ba Lan vào tháng Chín , sau đó là Pháp và hầu hết phần còn lại của Tây Âu, mà không phải lo lắng về bất kỳ mối đe dọa nào và không có sự can thiệp của Liên Xô . Không chỉ mở đường cho cuộc xâm lược Ba Lan mà còn đánh dấu cho sự khởi đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Hiệp ước không xâm phạm ngày 23 tháng 8 chứa một giao thức bí mật cung cấp cho phân vùng Ba Lan và phần còn lại của Đông Âu vào các lĩnh vực Liên Xô và Đức quan tâm .

Đức quốc xã và Liên Xô cũng hợp tác chặt chẽ về mặt kinh tế trong liên minh của họ sau năm 1939. Các nguyên liệu thô của Liên Xô cho phép người Đức giảm thiểu những tác động tồi tệ nhất của phong tỏa hải quân Anh, trong khi Liên Xô được hưởng lợi từ các công cụ và hàng hóa của Đức. Đức còn cung cấp lực lượng quân sự quan trọng cho Liên Xô . Stalin trao lại một số lượng đáng kể những người cộng sản Đức, những người đã lánh nạn tại Liên bang Xô viết sau khi quốc xã chiếm giữ quyền lực

Đối với Stalin, bản hiệp định cho phép Liên Xô có một khoảng thời gian “ thở “ để xây dựng lại lực lượng vũ trang đã bị tổn thất nặng nề bởi các thiệt hại của những năm trước đó .

Bằng cách ký kết bản hiệp định, Hitler tránh được mối đe dọa của một cuộc chiến hai mặt trận. Sau đó Stalin được phép mở rộng quyền cai trị của Liên Xô đối với các quốc gia vùng Baltic (Lithuania, Latvia và Estonia) và một phần của Romania và Phần Lan, khai thác, chiếm đóng sau đó sáp nhập vào và tổ chức nước cộng hòa Xô viết.

Hiệp ước là một thỏa thuận có lợi cho cả hai nước là kẻ thù của nhau. Nó cho phép Đức Quốc xã và Liên bang Xô viết khắc họa các lĩnh vực ảnh hưởng ở Đông Âu, trong khi cam kết không tấn công lẫn nhau trong 10 năm.

Đăng bởi: THPT Ninh Châu

Chuyên mục: Lớp 12, Lịch Sử 12

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button