Lớp 10Ngữ Văn

Phú sông bạch đằng thuộc thể loại gì? – Ngữ Văn 10

Lời giải và đáp án chính xác nhất cho câu hỏi trắc nghiệm “ Phú sông bạch đằng thuộc thể loại gì?” kèm kiến thức tham khảo là tài liệu trắc nghiệm môn Ngữ văn lớp 10 hay và hữu ích.

Trắc nghiệm: Phú sông bạch đằng thuộc thể loại gì?

A. Văn phú

B. Luật phú

Bạn đang xem: Phú sông bạch đằng thuộc thể loại gì? – Ngữ Văn 10

C. Bài phú

D. Cổ phú

Trả lời: 

Đáp án đúng: D. Cổ phú

Phú sông bạch đằng thuộc thể loại: cổ phú

Giải thích:

– Phú sông Bạch Đằng là bài thơ thuộc thể phú

– Thể phú là thể văn có vần hoặc xen lẫn văn vần và văn xuôi, dùng tả cảnh vật, phong tục, kể sự vật, bàn chuyện đời.

Tiếp theo đây, hãy cùng THPT Ninh Châu đi tìm hiểu và khám phá nhiều hơn những kiến thức thú vị về bài thơ Phú sông Bạch Đằng nhé!

Kiến thức tham khảo về bài thơ Phú sông bạch Đằng.

1. Thể phú là gì?

– Là thể văn có vần hoặc xen lẫn văn vần và văn xuôi, dùng tả cảnh vật, phong tục, kể sự vật, bàn chuyện đời.

– Phân loại: 2 loại

+ Phú cổ thể: có trước đời Đường (Trung Quốc), đặc trưng chủ yếu là mượn hình thức đối đáp giữa hai nhân vật chủ – khách để bày tỏ, diễn đạt nội dung, câu có vần, không nhất thiết có đối, kết bằng thơ. Bố cục gồm 4 đoạn: mở, giải thích, bình luận, kết.

+ Phú Đường luật (phú cận thể): xuất hiện từ thời Đường, có vần, có đối, theo luật bằng trắc. Bố cục thường có 6 đoạn.

2. Tác giả Trương Hàn Siêu

– Trương Hán Siêu (?-1354) tên tự là Thăng Phủ, hiệu là Độn Tẩu.

– Sinh thời, ông được các vua Trần tin cậy, nhân dân kính trọng; từng giữ chức Hàn lâm học sĩ, từng làm môn khách của Trần Hưng Đạo.

– Năm 1353 khi thống lĩnh đạo quân Thần Sách đi trấn đất Hóa Châu (Bình Trị Thiên) ông bị bệnh nặng. Năm sau cáo bệnh xin về nhưng chưa đến kinh đô ông đã qua đời.

– Trương Hán Siêu là người học vấn sâu rộng. Ông đã đem hết tài năng tâm huyết ra phục vụ cho non sông đất nước. Là người tính tình thẳng thắn bộc trực, cho nên cuộc đời làm quan của ông không ít thăng trầm.

– Ông là môn khách (khách trong nhà) của Trần Hưng Đạo, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng: Hàn lâm học sĩ (dưới đời Trần Anh Tông), Tham tri chính sự. Khi mất, ông được vua tặng tước Thái bảo, Thái phó và được thờ ở Văn Miếu (Hà Nội).

* Các tác phẩm chính

– Các tác phẩm của ông hiện còn 17 bài thơ: Cúc hoa bách vịnh (Vịnh hoa cúc còn 4 bài), Hoá Châu tác (Thơ làm ở Hoá Châu), Dục Thuý sơn (Núi Dục Thuý sơn), Quá Tống đô (Qua kinh đô nhà Tống).

– Về văn xuôi ông có 2 bài: Khai Nghiêm tự bi ký (Văn bia chùa Khai Nghiêm) và Dục Thuý sơn linh tế tháp ký (Bài ký tháp linh tế núi Dục Thuý sơn). 

3. Tác phẩm

* Hoàn cảnh sáng tác:

– Bạch Đằng là một nhánh sông đổ ra Biển Đông, nằm giữa Quảng Ninh và Hải Phòng, nơi ghi dấu nhiều chiến công lịch sử giữ nước của dân tộc.

– “Phú sông Bạch Đằng” được viết từ cảm hứng hào hùng và bi tráng. Trương Hán Siêu trong một lần dạo chơi đã viết bài phú này. Chưa rõ bài phú được viết năm nào, có lẽ khoảng 50 năm sau cuộc kháng chiến chống giặc Mông – Nguyên thắng lợi.

 Phú sông bạch đằng thuộc thể loại gì? (ảnh 2)

* Bố cục:

– Phần 1 (từ đầu đến “luống còn lưu”): Cảm xúc lịch sử của nhân vật khách trước cảnh sắc của sông Bạch Đằng.

– Phần 2 (tiếp đó đến “nghìn xưa ca ngợi”): Lời của các bô lão kể với khách về những chiến công lịch sử trên sông Bạch Đằng.

– Phần 3 (tiếp đó đến “chừ lệ chan”): Suy ngẫm, bình luận của các bô lão về những chiến công xưa.

– Phần 4 (còn lại): Lời ca khẳng định vai trò và đức độ của con người.

* Giá trị nội dung:

– Qua những hoài niệm về quá khứ, Phú sông Bạch Đằng đã thể hiện lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc trước chiến công trên sông Bạch Đằng, đồng thời ngợi ca truyền thống anh hùng bất khuất, truyền thống đạo lí nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam. Tác phẩm cũng chứa đựng tư tưởng nhân văn cao đẹp qua việc đề cao vai trò, vị trí của con người trong lịch sử.

* Giá trị nghệ thuật:

– Cấu tứ đơn giản, hấp dẫn với bố cục chặt chẽ.

– Lời văn linh hoạt.

– Hình tượng nghệ thuật sinh động, vừa có giá trị gợi hình vừa giàu ý nghĩa biểu tượng.

– Ngôn từ trang trọng, tráng lệ, lắng đọng và giàu suy tư.

– Điển cố được sử dụng chọn lọc, giàu sức gợi.

4. Tổng kết

– Nội dung: Phú sông Bạch Đằng đã thể hiện lòng yêu nước và niềm từ dân tộc trước chiến công trên sông Bạch Đằng, đồng thời ca ngợi truyền thống anh hùng bất khuất, truyền thống đạo lý nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam.

– Nghệ thuật: đỉnh cao nghệ thuật của thể phú trong văn học trung đại Việt Nam.

5. Lời ca của các vị bô lão và lời ca nối tiếp của “khách” 

– Lời ca của các vị bô lão: vừa tổng kết, vừa thể hiện chân lý sáng ngời: bất nghĩa thì tiêu vong, chỉ có người nhân nghĩa thì được lưu danh thiên cổ.

– Lời ca của khách :

+ Ca ngợi sự anh minh của bậc đế vương, những chiến công trên sông Bạch Đằng và khẳng định chân lý: “Nhân kiệt là yếu tố quyết định thắng lợi”.

+ Thể hiện niềm tự tôn dân tộc, lòng yêu nước sâu đậm.

6. So sánh lời ca của “khách” kết thúc Phú sông Bạch Đằng với bài thơ Sông Bạch Đằng (Bạch Đằng giang) của Nguyễn Sưởng (bản dịch).

* Giống nhau:

– Ca ngợi chiến thắng Bạch Đằng.

– Ca ngợi các yếu tố thiên nhiên và con người làm nên chiến thắng.

* Khác nhau:

– Về thể loại: Bài “Sông Bạch Đằng” được viết theo thể thơ Đường luật (ngắn); bài “Bạch Đằng giang phú” viết theo thể phú cổ thể (dài).

– Trương Hán Siêu đề cao vai trò con người hơn “cốt mình đức cao”, còn Nguyễn Sưởng thì san bằng “Nửa do sông núi, nửa do người”.

Đăng bởi: THPT Ninh Châu

Chuyên mục: Lớp 10,Ngữ Văn 10

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button