Lớp 10Ngữ Văn

Ngôn ngữ nói là gì? – Ngữ Văn 10

Lời giải và đáp án chính xác nhất cho câu hỏi “Ngôn ngữ nói là gì?” kèm kiến thức tham khảo là tài liệu tham khảo môn Ngữ văn 10 hay và hữu ích.

Trả lời câu hỏi: Ngôn ngữ nói là gì?

– Ngôn ngữ nói, còn gọi là khẩu ngữ, văn nói (văn ở đây nghĩa là ngôn ngữ), là một ngôn ngữ được tạo ra bởi những âm thanh, là lời nói trong giao tiếp hàng ngày ở đó người nói và người nghe được tiếp xúc trực tiếp với nhau và có thể luân phiên nhau trong vai trò nghe và nói. Ngôn ngữ nói cũng có thể không được nghe trực tiếp mà được thực hiện qua những thiết bị di động, thiết bị điện thoại bàn,…

– Trong ngôn ngữ nói, phần lớn ý nghĩa được xác định bởi bối cảnh. Điều đó trái ngược với ngôn ngữ viết trong đó nhiều ý nghĩa được cung cấp trực tiếp bởi văn bản. Trong ngôn ngữ nói, sự thật của một đề xuất được xác định bởi tham chiếu thông thường để trải nghiệm, nhưng trong ngôn ngữ viết, một sự nhấn mạnh lớn hơn được đặt vào lập luận hợp lý và mạch lạc. Tương tự, ngôn ngữ nói có xu hướng truyền đạt thông tin chủ quan, bao gồm mối quan hệ giữa người nói và khán giả, trong khi ngôn ngữ viết có xu hướng truyền đạt thông tin khách quan.

Bạn đang xem: Ngôn ngữ nói là gì? – Ngữ Văn 10

Cùng Top tài liệu tìm hiểu thêm những kiến thức bổ ích về đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết nhé.

Kiến thức tham khảo về đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

1. Đặc điểm của ngôn ngữ nói

– Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ âm thanh:

+ Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ âm thanh được phát ra từ con người, các thiết bị điện tử được ghi âm giọng nói…

+ Ngôn ngữ nói là những lời nói trong giao tiếp hằng ngày, ở đó người nói và người nghe được tiếp xúc trực tiếp với nhau và có thể luân phiên nhau trong vai trò nghe và nói. Ngôn ngữ nói cũng có thể không được nghe trực tiếp mà được thực hiện qua những thiết bị di động, thiết bị điện thoại bàn…

+ Ngôn ngữ nói được con người thực hiện trực tiếp, diễn ra tức khắc và liên tục do đó, trong nhiều trường hợp người nói không có sự chuẩn bị và mắc các lỗi trong khi nói. Người nghe có thể tiếp nhận những thông tin từ người nói và chỉnh sửa, góp ý lại.

– Ngôn ngữ nói đa dạng về ngữ điệu:

+ Ngôn ngữ nói rất đa dạng về ngữ điệu như giọng nói có thể cao hay thấp, nhanh hay chậm, liên tục hay ngắt quãng, mạnh hay yếu, trầm hay bổng, ngọt ngào hay chua chát…

+ Ngữ điệu trong ngôn ngữ nói là đặc điểm quan trọng để biết người nói có cảm xúc gì? nội dung đó có quan trọng không và nó góp phần bổ sung và bộc lộ thông tin.

+ Ngôn ngữ nói còn có sự phối hợp giữa âm thanh, giọng điệu với các phương tiện hỗ trợ như nét mặt, ánh mắt, điệu bộ, cử chỉ, thần thái,… của người nói.

– Ngôn ngữ nói thường sử dụng từ ngữ đa dạng:

+ Trong ngôn ngữ nói, chúng ta có thể sử dụng từ ngữ đa dạng, tự do ngôn luận, có nhiều lớp từ ngữ mang tính khẩu ngữ, có cả từ ngữ địa phương, tiếng lóng, chơi chữ, các biệt ngữ, các trợ từ, thán từ, các từ ngữ đưa đẩy, chêm xen…

+ Ngôn ngữ nói thường hay rườm rà, có nhiều yếu tố trùng lặp, dư thừa vì lời nói được tạo ra tức thời không có điều kiện gọt giũa hoặc do người nói cố ý lặp lại để người nghe có thể tiếp nhận, lĩnh hội thấu đáo nội dung giao tiếp.

2.  Đặc điểm của ngôn ngữ viết

– Ngôn ngữ viết được thể hiện bằng chữ viết:

+ Tất cả các dạng ngôn ngữ viết đều được thể hiện bằng chữ viết trong văn bản và được tiếp nhận bằng thị giác. Cho nên, muốn viết và đọc văn bản thì cả người viết và người đọc phải hiểu biết các ký tự chữ viết, các ngôn ngữ chính tả, các quy tắc tổ chức văn bản.

+ Mặc khác, khi viết người viết có điều kiện và thời gian để suy ngẫm, lựa chọn, gọt giũa, còn khi đọc, người đọc có điều kiện để đọc lại nhiều lần, phân tích, nghiền ngẫm để lĩnh hội thấu đáo.

– Ngôn ngữ viết có cấu trúc rõ ràng, mạch lạc:

+ Ngôn ngữ viết tuy không có ngữ điệu và sự phối hợp của các yếu tố hỗ trợ như nét mặt, cử chỉ, điệu bộ như ngôn ngữ nói nhưng lại được sự hỗ trợ của dấu câu trong tiếng Việt, của các ký hiệu văn tự, hình ảnh minh họa, các bản biểu, sơ đồ điều này cũng giúp cho ngôn ngữ viết có những ưu điểm của nó và giúp người đọc có thể hiểu được những thông tin được truyền tải trong bài viết.

– Ngôn ngữ viết từ ngữ được sử dụng có chọn lọc:

+ Khác với ngôn ngữ nói là tốc độ nhanh, tức thì từ ngữ trong nhiều trường hợp không được chọn lọc thì ngôn ngữ viết từ ngữ được lựa chọn, thay thế nên có điều kiện đạt được tính chính xác. Đồng thời, tùy vào phong cách ngôn ngữ của văn bản mà người viết sử dụng với tần số cao các từ ngữ phù hợp với các loại văn bản trong tiếng Việt.

+ Nhìn chung, trong văn bản viết người ta tránh sử dụng các từ ngữ mang tính khẩu ngữ, từ ngữ địa phương, tiếng lóng, tiếng tục thay vào đó người viết sẽ sử dụng thống nhất ngôn ngữ phổ thông, mà người đọc dù ở vùng miền nào cũng có thể hiểu được nội dung của bài viết.

3. Luyện tập

Câu 1: Phân tích đặc điểm của ngôn ngữ viết thể hiện trong đoạn trích sau

“Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước. Từ các cụ già tóc bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ, từ những kiều bào ở nước ngoài đến những đồng bào ở vùng tạm bị chiếm, từ nhân dân miền ngược đến miền xuôi, ai cũng một lòng nồng nàn yêu nước, ghét giặc. Từ những chiến sĩ ngoài mặt trận chịu đói mấy ngày để bám sát lấy giặc đặng tiêu diệt giặc đến những công chức ở hậu phương nhịn ăn để ủng hộ bộ đội, từ những phụ nữ khuyên chồng con đi tòng quân mà mình thì xung phong giúp việc tải đạn cho đến các bà mẹ chiến sĩ săn sóc yêu thương bộ đội như con đẻ của mình. Từ những nam nữ công nhân và nông dân thi đua tăng gia sản xuất, không quản khó nhọc để giúp một phần vào kháng chiến cho đến những đồng bào điền chủ quyên đất ruộng cho Chính phủ… Những cử chỉ cao quý đó tuy khác nhau nơi việc làm nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước”.

(Tinh thần yêu nước của nhân dân ta – Hồ Chí Minh)

Trả lời:

a. Từ ngữ: Dùng những từ ngữ bình dị, gần gũi, dễ hiểu với đại chúng

b. Dùng từ ngữ liên kết: từ , từ những

c. Sử dụng các biện pháp nghệ thuật liệt kê, điệp từ ngữ, điệp cấu trúc câu

Câu 2: Phân tích đặc điểm của ngôn ngữ viết trong đoạn trích sau đây

Nay muốn một ngày kia nước Việt Nam được tự do độc lập thì trước hết dân Việt Nam phải có đoàn thê đã. Mà muốn có đoàn thể thì có chi hay hơn là truyền bá xã hội chủ nghĩa trong dân Việt Nam này.

(Phan Châu Trinh, về luân lí xã hội ở nước ta)

Trả lời:

Cần phân tích đặc điểm về diễn đạt ở hai phương tiện chủ yếu :

– Về từ ngữ: Dùng nhiều thuật ngữ chính trị: nước, đoàn thể, tự do độc lập, truyền bá, xã hội chủ nghĩa, dân,…

– Về câu văn : Dùng nhiều câu ghép mạch lạc, có quan hệ từ chỉ mục đích, chỉ điều kiện và hệ quả : … muốn… thì… Hơn nữa, hai câu văn liên kết với nhau theo quan hệ móc xíc.

Câu 3: Phân tích những đặc điểm của ngôn ngữ nói được ghi lại trong đoạn trích sau

Chủ tâm hắn cũng chẳng có ý chòng ghẹo cô nào, nhưng mấy cô gái lại cứ đẩy vai cô ả này ra với hắn, cười như nắc nẻ:

– Kìa anh ấy gọi! Có muốn ăn cơm trắng mấy giò thì ra đẩy xe bò với anh ấy!

Thị cong cớn:

– Có khối cơm trắng mấy giò đấy! Này, nhà tôi ơi, nói thật hay nói khoác đấy?

Tràng ngoái cổ lại vuốt mồ hôi trên trán cười:

– Thật đấy, có đẩy thì ra mau lên!

Thị vùng đứng dậy, ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng.

– Đã thật thì đẩy chứ sợ gì, đằng ấy nhỉ. – Thị liếc mắt, cười tít.

(Vợ nhặt – Kim Lân)

Trả lời:

Người nói, người nghe trực tiếp, luân phiên

– Dùng thán từ hô gọi: Nhà tôi ơi, này, kia

– Dùng từ tình thái: nhỉ, đấy

– Dùng từ mang tính khẩu ngữ: mấy, có khối, đằng ấy, nói khoác

– Dùng kết cấu câu: Có… thì…; Đã … thì..

– Phối hợp lời nói và cử chỉ, điệu bộ.

Đăng bởi: THPT Ninh Châu

Chuyên mục: Lớp 10,Ngữ Văn 10

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button