GDQPLớp 12

Nghệ thuật quân sự Việt Nam được hình thành và phát triển trong quá trình?

Đáp án và lời giải chính xác cho câu hỏi “Nghệ thuật quân sự Việt Nam được hình thành và phát triển trong quá trình?” cùng với kiến thức mở rộng về nghệ thuật quân sự Việt Nam là những tài liệu học tập vô cùng bổ ích dành cho thầy cô và bạn học sinh.

Trả lời câu hỏi: Nghệ thuật quân sự Việt Nam được hình thành và phát triển trong quá trình?

Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là sự tiếp thu, kế thừa truyền thống đánh giặc của tổ tiên, vận dụng lí luận Mác – Lênin về quân sự, kinh nghiệm của các nước trên thế giới vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, là cơ sở cho sự hình thành và phát triển Nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Cùng THPT Ninh Châu hoàn thiện hơn hành trang tri thức của bạn qua bài mở rộng dưới đây nhé!

Bạn đang xem: Nghệ thuật quân sự Việt Nam được hình thành và phát triển trong quá trình?

Kiến thức tham khảo về nghệ thuật quân sự Việt Nam

1. Truyền thống và nghệ thuật đánh giặc của ông cha ta 

a. Đất nước trong buổi đầu lịch sử

Cách đây mấy nghìn năm, từ khi các Vua Hùng mở nước Văn Lang, lịch sử dân tộc Việt Nam bắt đầu thời đại dựng nước và giữ nước. Do yêu cầu tự vệ trong chống giặc ngoại xâm và yêu cầu thuỷ lợi của nền kinh tế nông nghiệp đã tác động mạnh mẽ đến sự hình thành của nhà nước trong buổi đầu lịch sử. Nhà nước Văn Lang là nhà nước đầu tiên của nước ta, có lãnh thổ khá rộng và vị trí địa lí quan trọng, bao gồm vùng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ ngày nay, nằm trên đầu mối những đường giao thông qua bán đảo Đông Dương và vùng Đông Nam Á.

Nền văn minh sông Hồng còn gọi là văn minh Văn Lang, mà đỉnh cao là văn hoá Đông Sơn rực rỡ, thành quả đáng tự hào của thời đại Hùng Vương. Vào nửa sau thế kỷ thứ III trước công nguyên, nhân sự suy yếu của triều đại Hùng Vương cuối cùng, Thục Phán là một thủ lĩnh người Âu Việt đã thống nhất hai bộ tộc Lạc Việt và Âu Việt, thành lập nước Âu Lạc, dời đô từ Lâm Thao về Cổ Loa (Hà Nội). Nhà nước Âu Lạc kế thừa nhà nước Văn Lang trên mọi lĩnh vực.

Do có vị trí địa lí thuận lợi, nước ta luôn bị các thế lực ngoại xâm lược nhòm ngó. Sự xuất hiện các thế lực thù địch và âm mưu thôn tính mở rộng lãnh thổ của chúng là nguy cơ trực tiếp đe doạ vận mệnh đất nước ta. Do vậy, yêu cầu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập và cuộc sống đã sớm xuất hiện trong lịch sử dân tộc ta. Người Việt muốn tồn tại, bảo vệ cuộc sống và nền văn hoá của mình chỉ có con đường duy nhất là đoàn kết đứng lên đánh giặc, giữ nước.

b. Những yếu tố tác động đến việc hình thành nghệ thuật đánh giặc

– Về địa lí

Nhà nước Văn Lang trước kia, nhà nước Việt Nam ngày nay có vị trí chiến lược quan trọng ở khu vực Đông Nam Á và biển Đông, có hệ thống giao thông đường bộ, đường biển, đường sông, đường không, bảo đảm giao lưu trong khu vực châu Á và thế giới thuận lợi. Đã từ lâu, nhiều kẻ thù luôn nhòm ngó, đe doạ và tiến công xâm lược. Để bảo vệ đất nước, bảo vệ sự trường tồn của dân tộc, ông cha ta đã đoàn kết và phát huy tối đa ưu thế của địa hình để lập thế trân đánh giặc.

– Về kinh tế

Kinh tế nước ta là tự cung, tự cấp, sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó trồng trọt, chăn nuôi là chủ yếu, trình độ canh tác thấp. Trong quá trình phát triển, ông cha ta đã kết hợp chặt chẽ tư tưởng dựng nước phải đi đôi với giữ nước, thực hiện nhiều kế sách như “phú quốc, binh cường”, “ngụ binh ư nông”… Tích cực phát triển sản xuất, chăn nuôi để ổn định, nâng cao đời sống của nhân dân, đồng thời, phát huy tính sáng tạo trong lao động, tự tạo ra vũ khí để chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc.

– Về chính trị, văn hoá – xã hội

Nước Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng chung sống hoà thuận, đoàn kết. Trong quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã sớm xây dựng được nhà nước, xác định chủ quyền lãnh thổ, tổ chức ra quân đội để cùng toàn dân đánh giặc, xây dựng được nền văn hoá mang bản sắc Việt Nam. Đất nước bao gồm làng, xã, thôn, bản và có nhiều dân tộc cùng chung sống. Mỗi dân tộc, làng, xã có phong tục, tập quán riêng, tạo nên nét đặc sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.

Trong quá trình đó, dân tộc ta đã xây dựng được nền văn hoá truyền thống: đoàn kết, yêu nước, thương nòi, sống hoà thuận, thuỷ chung; lao động cần cù sáng tạo, đấu tranh anh dũng kiên cường bất khuất.

2. Nghệ thuật đánh giặc của ông cha ta

– Về tư tưởng chỉ đạo tác chiến

            + Ông cha ta luôn nắm vững tư tưởng tiến công, tiến công liên tục, mọi lúc mọi nơi, từ cục bộ đến toàn bộ, coi đó như là một qui luật để giành thắng lợi. Đây được xem như là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến tranh giữ nước.

            + Tư tưởng đó thể hiện rất rõ trong đánh giá đúng kẻ thù, chủ động đề ra kế sách đánh,

phòng, khẩn trương chuẩn bị lực lượng kháng chiến, tìm mọi biện pháp làm cho địch suy yếu, tạo ra thế và thời cơ có lợi để tiến hành phản công, tiến công.

– Về mưu kế đánh giặc

            + Mưu là để lừa địch, đánh vào chỗ yếu, chỗ sơ hở, chỗ ít phòng bị, làm cho chúng bị động, lúng túng đối phó.

            + Kế là để điều địch theo ý định của ta, giành quyền chủ động, buộc chúng phải đánh theo cách đánh của ta

            + Kế sách đánh giặc của ông cha ta không những sáng tạo mà còn rất mềm dẻo, khôn

khéo đó là “biết tiến, biết thoái, biết công, biết thủ”, biết kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với binh vận, ngoại giao, tạo thế mạnh cho ta, biết phá thế mạnh của giặc, trong đó tiến công luôn giữ vai trò quyết định.

            + Ông cha ta đã phát triển mưu, kế đánh giặc, biến cả nước thành một chiến trường, tạo ra một “thiên la, địa võng” để diệt địch, làm cho “đich đông mà lại hoá ít, địch mạnh mà hoá yếu”, đi dến đâu cũng bị đánh, luôn bị tập kích, phục kích, lực lượng bị tiêu hao, tiêu diệt, rơi vào tình trạng “tiến thoái lưỡng nan”

– Nghệ thuật chiến tranh nhân dân, thực hiện toàn dân đánh giặc

            + Đây là một trong những nét độc đáo trong nghệ thuật quân sự của tổ tiên ta, được thể hiệncả trong khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng. Hễ kẻ thù động đến nước ta thì “vua tôi đồng lòng, anh em hoà mục, cả nước chung sức, trăm họ là binh”, giữ vững quê hương, bảo vệ xã tắc.

            + Nội dung cơ bản của thực hiện toàn dân đánh giặc là: “Mỗi người dân là một người lính, đánh giặc theo cương vị, chức trách của mình. Mỗi thôn, xóm, bản, làng là một pháo đài diệt giặc. Cả nước là một chiến trường, tạo ra thế trận chiến tranh nhân dân liên hoàn, vững chắc làm cho địch đông mà hoá ít, địch mạnh mà hoá yếu, rơi vào trạng thái bị động, lúng túng và bị sa lầy.”

– Nghệ thuật lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh:

            + Trên cơ sở điều kiện thực tiễn chiến tranh ở nước ta: luôn phải chống lại các đội quân xâm lược có quân số, vũ khí, trang bị lớn hơn ta rất nhiều lần thì đây là nét đặc sắc và tất yếu trong nghệ thuật quân sự của ông cha ta.

            + Nghệ thuật lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh chính là sản phẩm của lấy “thế” thắng “lực”. Ông cha ta đã sớm xác định đúng về sức mạnh trong chiến tranh đó là: sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, chứ không đơn thuần là sự so sánh, hơn kém về quân số, vũ khí của mỗi bên tham chiến.

– Nghệ thuật kết hợp đấu tranh giữa các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao và binh vận

            + Mặt trận chính trị nhằm cổ vũ tinh thần yêu nước của nhân dân, quy tụ sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, là cơ sở tạo ra sức mạnh quân đội

            + Mặt trận quân sự là mặt trận quyết liệt nhất, thực hiện tiêu diệt sinh lực, phá huỷ phương tiện chiến tranh của địch, quyết định thắng lợi trực tiếp của chiến tranh, tạo đà, tạo thế cho các mặt trận khác phát triển

            + Mặt trận ngoại giao có vị trí rất quan trọng, đề cao tính chính nghĩa của nhân dân ta, phân hoá, cô lập kẻ thù, tạo thế có lợi cho cuộc chiến. Mặt khác, mặt trận ngoại giao kết hợp với mặt trận quân sự, chính trị tạo ra thế có lợi để kết thúc chiến tranh càng sớm càng tốt.

            + Mặt trận binh vận để vận động làm tan rã hàng ngũ của giặc, góp phần quan trọng để hạn chế thấp nhất tổn thất của nhân dân ta trong chiến tranh

– Về nghệ thuật tổ chức và thực hành các trận đánh lớn

            + Thời nhà Lý: trận phòng ngự sông Cầu (Như Nguyệt), đây là điển hình về kết hợp chặt chẽ hai hình thức tác chiến phòng ngự và phản công trên cả quy mô chiến lược, chiến thuật. Kết quả không những chặn đứng được 30 vạn quân Tống mà cong làm thất bại ý đồ đánh nhanh thắng nhanh để chiếm Thăng Long của chúng, khiến chúng phải chuyển từ thế chủ động sang thế bị động phòng ngự

            + Thời nhà Trần: chống giặc Nguyên lần 2, Trần Quốc Tuấn đã tổ chức một cuộc rút lui chiến lược, làm thất bại kế hoạch vây hợp của địch. Trong cuộc truy đuổi, quân Nguyên còn vấp phải một cuộc chiến tranh của toàn dân Đại Việt. Do vậy, quân Nguyên bị sa vào tình trạng muốn đánh mà không đánh được, “lực càng yếu, thế càng suy”, tạo điều kiện cho ta phản công.

            + Thời hậu Lê: khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, là kết quả của nhiều yếu tố, trong đó nghệ thuật tổ chức và tiến hành các trận đánh quyết định giữ một vai trò rất quan trọng. Nguyễn Trãi và Lê Lợi chủ trương “lánh chỗ thực, đánh chỗ hư, tránh nơi vững chắc, đánh nơi sơ hở”

            + Nghệ thuật quân sự của Nguyễn Huệ và quân Tây Sơn được biểu hiện tập trung nhất, rực rỡ nhất trong việc tổ chức và thực hành các trận quyết chiến chiến lược. Nguyễn Huệ đã thiết lập một hệ thống tổ chức hành quân đạt hiệu quả tối đa, ông chú trọng hợp vây chiến dịch, chiến thuật và tiến công địch bằng các đòn thọc sâu hiểm hóc.

3. Nét đặc sắc của tư tưởng quân sự, nghệ thuật quân sự Việt Nam

Tư tưởng tiến công – tư tưởng quân sự đặc sắc của Việt Nam.

Đối với dân tộc ta, tư tưởng quân sự ở một khía cạnh nào đó đồng nghĩa với tư tưởng giữ nước, hay nói đúng hơn là nội dung cốt yếu của tư tưởng giữ nước và đó cũng là cơ sở quan trọng nhất để hoạch định đường lối quân sự, những chủ trương lớn và kế sách giữ nước. Bởi vậy, tư tưởng quân sự chi phối mọi hoạt động quân sự của Nhà nước, từ tổ chức hệ thống quân sự các cấp, tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang (nòng cốt là quân đội) tới phương thức tiến hành chiến tranh, loại hình tác chiến và các hoạt động liên quan khác. Điều đó cho thấy, tầm quan trọng đặc biệt của tư tưởng quân sự, mà trước hết là sự tác động có tính định hướng của nó đến đường lối quân sự – yếu tố quyết định thành bại trong chiến tranh. Tư tưởng quân sự như thế nào thì đường lối quân sự như thế ấy, có tư tưởng quân sự phù hợp thì mới có đường lối quân sự đúng và ngược lại.

Lịch sử đã khẳng định, tư tưởng quân sự của dân tộc ta là tư tưởng tiến công, cũng có thể nói là tư tưởng chiến lược tiến công. Nét đặc sắc nhất có tính đặc thù của tư tưởng này thể hiện ở chỗ được thực hiện nhất quán, xuyên suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Theo tổng kết, dân tộc ta đã tiến hành 14 cuộc chiến tranh chống xâm lược do Nhà nước Phong kiến Đại Việt tổ chức lãnh đạo, trong đó giành thắng lợi 11 cuộc, có 3 cuộc thất bại. Điểm chung đáng chú ý là, các cuộc chiến tranh mà ta giành thắng lợi đều thể hiện rõ việc thực hiện tư tưởng tiến công, còn đối với các cuộc thất bại thì tư tưởng này gần như không được thực hiện, mà thay vào đó là tư tưởng phòng thủ, phòng ngự. Chẳng hạn như cuộc chiến tranh chống quân Minh xâm lược của nhà Hồ ở đầu thế kỷ XV và cuộc chiến tranh của nhà Nguyễn chống thực dân Pháp xâm lược ở giữa thế kỷ XIX là những dẫn chứng điển hình. Khi đó, xét về tương quan so sánh lực lượng, nhà Hồ và nhà Nguyễn không hề kém địch, thậm chí có mặt còn hơn, nhưng kết cục đã bị thất bại. Tất nhiên, sự thất bại đó còn có nguyên nhân khác, nhưng không thể phủ nhận là họ đã không thực hiện tư tưởng tiến công.

Trong chiến tranh, xét về mặt nguyên tắc tác chiến, để tiến công thắng lợi thì nhất thiết phải mạnh hơn đối phương, còn nếu ngang bằng hoặc kém đối phương sẽ dễ thất bại. Trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược của ông cha ta trước đây và tiếp đó là Đảng ta sau này, dân tộc ta thường phải đương đầu với kẻ địch có tiềm lực và sức mạnh quân sự vượt trội, nhưng lại lấy tiến công làm tư tưởng chủ đạo, thay vì phòng thủ hoặc phòng ngự thụ động. Như thế liệu có mâu thuẫn không? Câu trả lời là không! Không những lựa chọn đó không mâu thuẫn, mà còn là lựa chọn khôn ngoan, phù hợp, bởi những cơ sở thực tiễn và khoa học sau:

Thứ nhất, lựa chọn tư tưởng tiến công là thể hiện tinh thần dám đánh, quyết đánh và quyết thắng quân xâm lược của cả dân tộc. Từ đó tạo nên sự đoàn kết toàn dân, niềm tin chiến thắng và không chịu khuất phục kẻ thù cho dù chúng có mạnh và hung bạo đến đâu. Còn nếu lựa chọn tư tưởng quân sự khác, ngoài tư tưởng tiến công thì có nghĩa là không dám đánh địch, sợ địch. Một dân tộc, một quân đội mang theo tư tưởng đó vào cuộc chiến cũng tức là đã tự tước bỏ sức mạnh nội sinh, đó là: chính trị – tinh thần – yếu tố cực kì quan trọng trong chiến tranh và như thế có thể nói chưa đánh đã thua, nếu có đánh cũng sẽ thất bại. Những thất bại của một số vương triều Đại Việt trong lịch sử đã cho thấy rõ điều này.

Thứ hai, về góc độ quân sự, lịch sử chiến tranh thế giới và dân tộc ta cũng đã chỉ ra rằng: để đánh bại quân địch, kết thúc thắng lợi chiến tranh chỉ có thể thực hiện được bằng hình thức tiến công, thậm chí cả hình thức phòng thủ, phòng ngự, dĩ nhiên đó phải là hình thức phòng thủ, phòng ngự tích cực. Đó là đòn tiến công chiến lược, có thể là một hoặc nhiều đòn kế tiếp nhau, trong đó có trận quyết chiến chiến lược để giành thắng lợi quyết định. Thông thường trận quyết chiến chiến lược được ta chủ động tổ chức vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, khi quân địch đã bị thiệt hại nặng, suy yếu nghiêm trọng cả về thế và lực. Nhưng cũng có những trường hợp được tổ chức ngay đầu cuộc chiến tranh với điều kiện ta hội tụ đầy đủ các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”. Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 do Ngô Quyền lãnh đạo đánh bại quân Nam Hán là một ví dụ; hoặc Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa đại phá 28 vạn quân Thanh năm 1789 và Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút đánh bại 05 vạn thủy quân Xiêm do Quang Trung – Nguyễn Huệ lãnh đạo là minh chứng khác tương tự. Những chiến thắng oanh liệt đó tuy không phổ biến, nhưng rất đáng suy ngẫm, bởi nó kết thúc nhanh chóng chiến tranh chỉ bằng một trận chiến – trận quyết chiến chiến lược, hay còn gọi “cuộc chiến của một trận chiến”.

Thứ ba, đề cập tư tưởng tiến công thực chất là nói đến tư tưởng chỉ đạo tác chiến chiến lược tiến công, còn gọi là tiến công chiến lược. Ở đây, khi nghiên cứu cần chú ý một điểm quan trọng đó là sự giống và khác nhau giữa tư tưởng chỉ đạo tác chiến với hình thức tác chiến (loại hình tác chiến). Nó thống nhất với nhau ở cấp chiến lược, tức là ở cấp chiến lược chỉ có chiến lược tiến công (cả về tư tưởng chỉ đạo và loại hình tác chiến), hay có thể nói không có chiến lược phòng ngự. Còn ở cấp chiến dịch, chiến thuật thì về mặt tư tưởng chỉ đạo là tiến công, nhưng hình thức tác chiến thì có thể là tiến công hoặc phòng ngự tùy theo điều kiện cụ thể để vận dụng thực hiện.

Kế thừa tư tưởng quân sự truyền thống của dân tộc, Đảng ta luôn nhất quán thực hiện tư tưởng tiến công trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Tư tưởng đó của Đảng thống nhất biện chứng với tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh: “Kiên quyết không ngừng thế tiến công”. Với đường lối chiến tranh nhân dân độc đáo, thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, vững chắc, tư tưởng tiến công được thực hiện một cách sáng tạo bằng các loại hình tác chiến phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể thì chúng ta sẽ chiến thắng mọi kẻ thù.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, căn cứ vào so sánh lực lượng giữa ta và địch, chúng ta đã thực hiện tuần tự qua các giai đoạn: phòng ngự, cầm cự, phản công, tiến công với các hình thức tác chiến tương ứng. Nhờ đó, từng bước chuyển hóa thế và lực theo hướng có lợi cho ta. Đến giai đoạn cuối, lực lượng ta lớn mạnh và hoàn toàn giành quyền chủ động chiến lược và kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ bằng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quán triệt sâu sắc tư tưởng tiến công và triệt để thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân độc đáo, sáng tạo trên cả hai miền Nam – Bắc. Miền Bắc thực sự là hậu phương lớn, vừa chiến đấu vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội và chi viện đắc lực cho tiền tuyến lớn miền Nam. Miền Nam trở thành tuyến đầu đánh Mỹ – Ngụy, luôn kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao; chủ động đánh địch bằng ba mũi giáp công, trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng, đô thị); thực hiện tác chiến ở mọi quy mô (đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ), trong thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, vững chắc. Nhờ đó, liên tiếp đánh bại ba chiến lược chiến tranh của địch (chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh), hoàn thành chủ trương chiến lược: đánh cho Mỹ cút, tiến tới đánh cho Ngụy nhào bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến vĩ đại chứng minh tính đúng đắn của đường lối chiến tranh nhân dân cũng như nét đặc sắc của tư tưởng tiến công cùng tài thao lược và sự chỉ đạo chiến lược xuất sắc, nhạy bén, sáng tạo của Đảng ta. Qua đó, khẳng định việc lựa chọn và triệt để thực hiện tư tưởng tiến công là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam; đồng thời, là cơ sở quan trọng nhất cho việc hoạch định và thực hiện đường lối quân sự của Đảng, phát huy cao độ sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân Việt Nam để giành thắng lợi trước mọi kẻ thù xâm lược, bất kể chúng có hung bạo và sức mạnh quân sự đến nhường nào.

Trong tương lai, nếu chiến tranh xảy ra đối với nước ta, đó sẽ là cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc phát triển ở trình độ cao chống chiến tranh xâm lược của địch. Cuộc chiến tranh đó chắc chắn sẽ rất ác liệt bởi có đặc điểm mới, yêu cầu mới rất khác so với chiến tranh giải phóng của quân và dân ta trước đây. Mặc dù vậy, điều cơ bản và quan trọng nhất là chúng ta cần tiếp tục quán triệt và thực hiện triệt để tư tưởng tiến công – nét đặc sắc của tư tưởng quân sự, nghệ thuật quân sự Việt Nam. Cùng với đó, vận dụng và phát huy nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân Việt Nam phù hợp, hiệu quả trong điều kiện mới. Làm được như vậy, chúng ta tin rằng sẽ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống

Đăng bởi: THPT Ninh Châu

Chuyên mục: Lớp 12, GDQP 12

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button