Lớp 12Sinh Học

Mục đích của việc gây đột biến nhân tạo nhằm?

Đáp án và giải thích chính xác câu hỏi trắc nghiệm “Mục đích của việc gây đột biến nhân tạo nhằm?” cùng với kiến thức lý thuyết liên quan là tài liệu hữu ích môn Sinh học 12 dành cho các bạn học sinh và thầy cô giáo tham khảo.

Trắc nghiệm: Mục đích của việc gây đột biến nhân tạo nhằm?

A. Tạo ưu thế lai 

B. Tạo dòng thuần chủng 

Bạn đang xem: Mục đích của việc gây đột biến nhân tạo nhằm?

C. Gây đột biến gen, đột biến nhiễm sắc thể

D. Mục đích khác

Trả lời

Đáp án đúng: C. Gây đột biến gen, đột biến nhiễm sắc thể

Hãy để THPT Ninh Châu giúp bạn tìm hiểu thêm những kiến thức thú vị hơn về “đột biến” nhé!

Kiến thức tham khảo về đột biến

1.Đột biến là gì?

– Đột biến là những thay đổi trong trình tự ADN của sinh vật.

– Nếu chúng ta coi thông tin trong ADN là một chuỗi các câu, thì đột biến là lỗi chính tả các từ tạo nên các câu đó. Đôi khi các đột biến là không quan trọng, giống như một từ sai chính tả mà nghĩa của câu vẫn còn khá rõ ràng. Ở mức độ phức tạp hơn, các đột biến có thể xảy ra rộng hơn, giống như một câu mà ý nghĩa của nó bị thay đổi hoàn toàn.

– Đột biến có thể là kết quả của những sai lầm trong quá trình sao chép ADN trong quá trình phân chia tế bào, tiếp xúc với bức xạ ion hóa, tiếp xúc với hóa chất được gọi là đột biến hoặc nhiễm vi rút.

– Theo tài liệu được xuất bản bởi Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Di truyền tại Đại học Utah, lỗi sao chép trong tế bào người xảy ra với tần suất 1/100,000 nucleotide, tương ứng với khoảng 120,000 lỗi mỗi khi một tế bào phân chia.

– Tuy nhiên, tin tốt là, trong hầu hết các trường hợp, các tế bào có khả năng sửa chữa những lỗi như vậy. Hoặc, cơ thể sẽ phá hủy các tế bào không thể sửa chữa được, do đó ngăn chặn một quần thể các tế bào không bình thường mở rộng.

2. Nguyên nhân gây đột biến

Do tác nhân của môi trường ngoài cơ thể (thường là do tác động của con người) như:

– Tác nhân vật lý: tia phóng xạ tia cực tím, sốc nhiệt…

– Tác nhân hóa học: ảnh hưởng của nhiều chất hóa học như nicotine, cosinsin, dioxine (chất độc da cam)…

– Tác nhân sinh học: vi-rút vi khuẩn

Do nguyên nhân bên trong cơ thể: Những biến đổi bất thường trong sinh lý, sinh hóa trong tế bào (xuất hiện một cách tự nhiên).

3.Phân loại đột biến

Mục đích của việc gây đột biến nhân tạo nhằm? (ảnh 2)

Căn cứ vào tính chất xuất hiện đột biến, có thể phân chia thành các dạng như sau:

a, Đột biến gen 

*Khái niệm

– Đột biến gen là những biến đổi trong cấu trúc của gen. Những biến đổi này thường liên quan đến một (đột biến điểm) hoặc một vài cặp gen.

– Trong tự nhiên, các gen đều có thể bị đột biến nhưng với tần số rất thấp (10-6 – 10-4).

– Tần số đột biến gen có thể thay đổi tuỳ thuộc vào tác nhân đột biến và độ bền của gen.

– Cá thể mang đột biến biểu hiện thành kiểu hình được gọi là thể đột biến.

* Nguyên nhân

    – Do những sai sót ngẫu nhiên phát sinh trong quá trình tự nhân đôi của ADN.

    – Tác động của các tác nhân vật lí, hoá học và sinh học trong môi trường.

   – Đột biến có thể phát sinh trong điều kiện tự nhiên hoặc do con người tạo ra.

   *Cơ chế phát sinh

    – Sự kết cặp không đúng trong tái bản ADN: Các bazơ nitơ thường tồn tại 2 dạng cấu trúc: dạng thường và dạng hiếm. Các dạng hiếm có những vị trí liên kết hiđrô bị thay đổi dẫn đến chúng có thể bắt cặp sai khi tái bản gây đột biến.

    – Tác động của các tác nhân gây đột biến:

   + Tác nhân vật lí: tia UV có thể làm cho 2 Timin cạnh nhau trên cùng 1 mạch liên kết với nhau dẫn đến đột biến gen.

   + Tác nhân hoá học: 5BU là chất đồng đẳng của Timin, gây đột biến thay thế cặp A – T bằng cặp G – X.

   + Tác nhân sinh học: dưới tác động của một số loại virut như virut Hecpet, virut viêm gan B, … cũng có thể gây đột biến

b. Đột biến nhiễm sắc thể 

– Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể (NST) là những biến đổi trong cấu của NST.

– Các dạng đột biến này sắp xếp lại những khối gen trên và giữa các NST nên có thể làm thay đổi hình dạng và kích thước NST.

– Đột biến NST có thể do các tác nhân vật lý, hoá học hay sinh học gây ra.

– Người ta chia đột biến nhiễm sắc thể thành các dạng; mất đoạn, lặp đoạn, đảo đoạn và chuyển đoạn.

*Mất đoạn

– Là dạng đột biến làm mất 1 đoạn nào đó của NST.

– Mất đoạn làm giảm số lương gen trên NST, làm mất cân bằng gen nên thường gây chết với thể đột biến.

– Ứng dụng: người ta chủ động gây ra các đột biến mất đoạn nhỏ để loại bỏ các gen gây hại.

*Lặp đoạn

– Lặp đoạn là dạng đột biến làm cho một đoạn nào đó trên NST được lặp lại một hay nhiều lần.

– Lặp đoạn làm tăng số gen trên NST, làm mất cân bằng gen trong hệ gen.

– Trong một số trường hợp, lặp đoạn làm tăng số lượng gen và sản phẩm của gen nên cũng có thể được ứng dụng trong thực tế.

– Lặp đoạn không gây hậu quả nghiêm trọng bằng mất đoạn. Ngoài ra, lặp đoạn NST cũng tạo điều kiện cho đột biến gen, tạo nên các gen mới trong quá trình tiến hoá.

*Đảo đoạn

– Là dạng đột biến làm cho một đoạn NST nào đó đứt ra rồi đảo ngược 1800 và nối lại.

– Hệ quả: làm thay đổi trình tự phân bố các gen trên NST.

– Sự sắp xếp các gen do đảo đoạn góp phần tạo ra nguồn nguyên liệu cho quá trình tiến hoá.

*Chuyển đoạn

– Là dạng đột biến dẫn đến sự trao đổi đoạn trong một NST hoặc giữa các NST không tương đồng.

– Đột biến chuyển đoạn làm thay đổi nhóm gen liên kết.

– Các thể đột biến mang chuyển đoạn NST thường bị giảm khả năng sinh sản.

– Đột biến chuyển đoạn có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành loài mới.

Đăng bởi: THPT Ninh Châu

Chuyên mục: Lớp 12, Sinh Học 12

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button