Lớp 10Ngữ Văn

Mở bài Bình Ngô Đại Cáo nâng cao – Ngữ Văn 10

Tuyển chọn những mẫu mở bài hay chủ đề Mở bài Bình Ngô Đại Cáo nâng cao. Các bài mẫu được biên soạn, tổng hợp nâng cao, chi tiết từ các bài viết hay, xuất sắc nhất của các bạn học sinh chuyên văn. Mời các em cùng tham khảo nhé! 

Mở bài Bình Ngô Đại Cáo nâng cao

Mở bài Bình Ngô Đại Cáo – Mẫu số 1

Nếu bài thơ “Nam quốc sơn hà” có giá trị như một bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc thì “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi được coi là “áng thiên cổ hùng văn”, là bản tuyên ngôn độc lập chủ quyền thứ hai của đất nước ta. Đây là tác phẩm mang những đặc điểm cơ bản của thể loại cáo nói chung, bên cạnh đó cũng mang những đặc điểm sáng tạo riêng của tác giả.

Bạn đang xem: Mở bài Bình Ngô Đại Cáo nâng cao – Ngữ Văn 10

Mở bài Bình Ngô Đại Cáo – Mẫu số 2

Trong suốt bao năm qua, Nguyễn Trãi vẫn được đánh giá như một nhà văn, nhà thơ đại tài của đất nước, một nhà tư tưởng, chính trị lỗi lạc của dân tộc Việt Nam thế kỉ XV. Các tác phẩm của ông là sự kết hợp hài hoà của tư tưởng chính nghĩa, lòng yêu nước với lập luận sắc sảo, chặt chẽ, giọng văn hùng hồn, đầy tính thuyết phục với tư tưởng lấy dân làm gốc. Tiêu biểu trong số đó không thể không kể đến tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” – tác phẩm có giá trị như một bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc Việt Nam.

Mở bài Bình Ngô Đại Cáo – Mẫu số 3

Ngoài “Tuyên ngôn độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì còn có “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi cũng được coi là bản tuyên ngôn độc lập. Ở thời điểm của mình, Nguyễn Trãi viết nên “Bình Ngô đại cáo” thể hiện rõ ràng lòng yêu nước, tự hào dân tộc, căm ghét quân xâm lược, bởi vậy tác phẩm mới được coi như là một “áng thiên cổ hùng văn” bất hủ của dân tộc. Ngay từ mở bài bình ngô đại cáo đoạn 1 đã thể hiện rõ tư tưởng nhân nghĩa xuyên suốt, vạch rõ tội ác “trời không dung, đất không tha” của giặc Ngô (quân Minh) khi âm mưu xâm chiếm Đại Việt ta.

Mở bài Bình Ngô Đại Cáo – Mẫu số 4

Nhà phê bình văn học Hoài Thanh từng nhận định “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời”. Những kiệt tác văn học ra đời không chỉ mang trong mình ý nghĩa văn chương mà còn mang cả tầm vóc lịch sử. “Đại cáo Bình Ngô” chính là một kiệt tác như thế. Không những là áng “thiên cổ hùng văn” của Nguyễn Trãi, “Đại cáo Bình Ngô” còn có ý nghĩa như một bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc.

Mở bài Bình Ngô Đại Cáo – Mẫu số 5

Vua Lê Thánh Tông đã từng đề cao: “Ức Trai tâm thượng quang Khuê Tảo”. Trong suốt bao năm qua, Nguyễn Trãi được nhớ tới, đánh giá như một nhà văn, nhà thơ vĩ đại của non sông Việt Nam, một nhà tư tưởng, một nhà chính trị đại tài của dân tộc Việt Nam thế kỉ XV. Các tác phẩm là sự kết hợp hài hoà của tư tưởng chính nghĩa, lòng yêu nước với lập luận sắc sảo, chặt chẽ, giọng văn hùng hồn, đầy tính thuyết phục với tư tưởng lấy dân làm gốc. Một trong số tác phẩm của ông thể hiện rõ điều này là tác phẩm Bình Ngô đại cáo.

Mở bài Bình Ngô Đại Cáo – Mẫu số 6

Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng, từ muôn đời vẫn vậy. Dẫu có bị xâm lăng thì dân ta vẫn một lòng đấu tranh chống giặc, tinh thần bất khuất ấy luôn trường tồn. Cảm hứng về chính nghĩa trong ” Bình Ngô đại cáo” là lời khẳng định cho tinh thần ấy. Nguyễn Trãi đã thay Lê Lợi truyền lời, nêu cao ngọn cờ chính nghĩa vì nước, vì dân mà khởi nghĩa chống giặc Minh xâm lược và chiến thắng vẻ vang.

Mở bài Bình Ngô Đại Cáo – Mẫu số 7

Cáo là thể văn nghị luận có từ thời cổ ở Trung Quốc, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương, tuyên ngôn một sự kiện để mọi người cùng biết. Bản cáo trạng đặc biệt “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi được xem như bản “tuyên ngôn độc lập thứ hai” của dân tộc ta bởi giá trị lịch sử, chính trị lẫn văn học. Nguyễn Trãi dùng hai chữ “đại cáo” để thay lời Lê Lợi công bố với thiên hạ những tội ác tày trời của giặc Minh, đồng thời khẳng định sự thắng lợi vang dội của quân và dân ta, đem lại cuộc sống hòa bình, ấm no cho dân tộc.

Bài văn Chứng minh Đại Cáo Bình Ngô là áng thiên cổ hùng văn

Chứng minh Đại Cáo Bình Ngô là áng thiên cổ hùng văn – Mẫu số 1

Nhắc đến những bản tuyên ngôn độc lập đầy hào hùng của dân tộc, chúng ta không thể không nhắc đến Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Tác phẩm không chỉ được coi là bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc mà còn là áng thiên cổ hùng văn vô cùng đặc sắc, giàu giá trị trong nền văn học Việt Nam nói chung và văn học trung đại nói riêng.

Trước hết, ta cần hiểu “thiên cổ hùng văn” là những bài văn cổ mang âm điệu hùng tráng, hào hùng có nội dung viết về những vấn đề lớn trong lịch sử dân tộc đã được lưu truyền từ ngàn đời nay. Nói Bình Ngô đại cáo là áng thiên cổ hùng văn bởi nội dung bài cáo là bản tổng kết, bố cáo thiên hạ về chiến thắng của vua tôi nhà Lê trước giặc Minh tàn ác, lời khẳng định độc lập chủ quyền của dân tộc Việt Nam và ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền của quân dân ta trước kẻ thù xâm lăng. Không chỉ vậy, Đại cáo bình Ngô là áng văn được kết tinh dưới ngòi bút chính luận trữ tình của Nguyễn Trãi với lời văn biền ngẫu cùng sự thay đổi giọng điệu linh hoạt, các biện pháp tu từ nghệ thuật và hệ thống từ ngữ được chọn lọc vô cùng nhuần nhuyễn,… đã tạo nên vẻ trầm hùng trong cách thể hiện của bài cáo.

Thật vậy, bài Bình Ngô đại cáo chính là bài văn tổng kết lại một cách ngắn gọn nhất cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do chủ tướng Lê Lợi lãnh đạo, xuyên suốt tác phẩm là niềm tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc. Đầu tiên, Bình Ngô đại cáo đã khẳng định nhân nghĩa chính là lí tưởng xuyên suốt cuộc khởi nghĩa và lời khẳng định Việt Nam là dân tộc có nền văn hiến lâu đời:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau

Song hào kiệt thời nào cũng có.

Mỗi câu thơ vang lên đều ẩn chứa trong đó niềm tự hào, lời khẳng định chắc nịch về tư tưởng nhân nghĩa gắn với việc yên dân trừ bạo. Bên cạnh việc khẳng định nhân nghĩa chính là mang lại cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân, vì nhân dân, tác giả còn khẳng định các yếu tố xác định chủ quyền dân tộc: Nền văn hiến lâu đời, cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, lịch sử riêng, triều đại riêng và “hào kiệt đời nào cũng có”. Nguyễn Trãi còn đặt Đại Việt trong thế đối sánh ngang hàng với các quốc gia phong kiến lớn ở phương Bắc. Điều này cũng đã thể hiện sự tự ý thức về tồn tại độc lập, chủ quyền của dân tộc vừa thể hiện niềm tự hào đối với truyền thống văn hóa, phong tục tập quán của nhân dân.

Tiếp sau những lời văn chứa chan niềm xúc động, tự hào trước trang lịch sử vẻ vang của dân tộc là lời tố cáo đầy đanh thép của tác giả trước tội ác của giặc Minh:

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.

Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế,

Gây binh kết oán trải hai mươi năm.

Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,

Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.

Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.

Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc.

Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,

Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.

Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,

Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.

Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán;

Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa.

Nặng nề những núi phu phen,

Tan tác cả nghề canh cửi.

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

Tất cả những tội ác man rợ nhất của kẻ thù được Nguyễn Trãi gây ra đối với nhân dân ta, những hình ảnh “nướng dân đen, vùi con đỏ, gây binh kết oán…” đã cho thấy sự tàn ác của chúng nhằm hủy diệt đồng bào ta. Chúng không chỉ độc ác khi tra tấn về mặt thể xác, chém giết tàn sát dân ta một cách không thương tiếc mà chúng còn tham lam vô độ, ra sức cướp phá, vơ vét tài nguyên thiên nhiên của nước ta, đặt ra cho chúng ta những loại thuế khóa vô cùng nặng nề. Những tội ác của giặc Minh nhiều không kể xiết và gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng đến kinh tế “tan tác cả nghề canh cửi”, môi trường tự nhiên “bắt chim trả”, “bẫy hươu đen”, “tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ”, cuộc sống nhân dân thê thảm “nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng”… Bằng cách sử dụng hình ảnh “trúc Nam Sơn”, “nước Đông Hải” là những sự vật tự nhiên vô cùng, vô tận, tác giả đã khẳng định tội ác của lũ giặc cướp nước và bán nước là không thể kể xiết khiến cho trời đất không thể dung tha, thần nhân không thể chịu được. Đó cũng chính là lí do khiến chúng ta phải cầm vũ khí, đứng lên chống lại kẻ thù xâm lược.

Và diễn tiến quá trình cuộc khởi nghĩa Lam Sơn cũng được Nguyễn Trãi thuật lại một cách đầy ngắn gọn qua những câu văn biền ngẫu dài ngắn khác nhau:

Núi Lam sơn dấy nghĩa

Chốn hoang dã nương mình

Ngẫm thù lớn há đội trời chung

Căm giặc nước thề không cùng sống

Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời

Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.

Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,

Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.

Những trằn trọc trong cơn mộng mị,

Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi

Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,

Chính lúc quân thù đang mạnh

Lời xưng “Ta đây” là lời nhân danh của chủ tướng Lê Lợi khiến cho bài cáo như một lời tự bộc bạch hết sức chân thành của vị tướng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn về những ngày đầu cuộc khởi nghĩa, với những trằn trọc, lo lắng trước vận nước đang ở thế ngàn cân treo sợi tóc, đau đớn trước cảnh giặc Minh hoành hành ngang ngược đang từng ngày tàn sát dân ta dã man, nỗi giận cứ thế dâng lên ngút trời,… Qua đây, ta cũng thấy được tấm lòng yêu nước thương dân, tâm tư, nỗi lòng sâu kín của Lê Lợi – linh hồn của cuộc chiến giành độc lập tự do cho nhân dân. Và cũng qua những dòng văn của Nguyễn Trãi, tất cả những gian khổ, thiếu thốn ban đầu của cuộc chiến cứ dần hiện rõ trước mắt người đọc:

Lại ngặt vì:

Tuấn kiệt như sao buổi sớm,

Nhân tài như lá mùa thu,

Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,

Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,

Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,

Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả.

Sự đối lập giữa một bên là sự lớn mạnh của giặc với một bên là lực lượng yếu mỏng của ta khi tuấn kiệt ít ỏi “như sao buổi sớm”, nhân tài thiếu thốn như “lá mùa thu”; có khi thiếu thốn về lương thực, có khi lại bị bao vây,… tất cả những điều này đã cho thấy sự khó khăn, khổ cực của nhân dân ta trong những ngày đầu đánh giặc. Ấy vậy nhưng, vượt lên trên tất cả:

Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,

Lúc Khôi Huyện quân không một đội.

Trời thử lòng trao cho mệnh lớn

Ta gắng trí khắc phục gian nan.

Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới

Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào.

Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,

Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.

Với sự đồng lòng của tướng lĩnh, nhân dân và ý chí quật cường, chiến lược đúng đắn cùng cự chỉ huy tài tình của vị tướng Lê Lợi, chúng ta vẫn vượt lên mọi khó khăn, dần xây dựng lực lượng vững mạnh làm nên những chiến thắng lịch sử, khiến cho giặc Minh phải sợ hãi. Trong bài cáo này, tác giả Nguyễn Trãi chỉ tập trung tường thuật lại ngắn gọn, súc tích một số trận chiến tiêu biểu trong những giai đoạn nhất định:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,

Lấy chí nhân để thay cường bạo.

Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,

Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.

Sĩ khí đã hăng

Quân thanh càng mạnh.

Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,

Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.

Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,

Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.

Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm

Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.

(…)

Tất cả những địa danh, không khí trận chiến vô cùng ác liệt đã được Nguyễn Trãi nhắc lại một cách vô cùng ấn tượng. Bằng cách nói cường điệu, phóng đại, tác giả đã cho thấy sự thất bại nhục nhã ê chề của giặc và không khí thắng trận của ta qua hai trận chiến Ninh Kiều và Tốt Động. Dấu ấn của trận đánh Chi Lăng – Xương Giang cũng được tác giả dồn hết tâm huyết, tài năng để tường thuật cho người đọc:

Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại

Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.

Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong

Sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực

Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế

Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu

Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong

Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.

Quân giặc hung hãn cử hai tướng giặc giỏi nhất chỉ huy nhằm tạo thế gọng kìm, đè bẹp quân dân ta, vậy nhưng do có sự phòng bị, bày binh bố trận hợp lí, ta đã phá tan kế hoạch của chúng để giành thế chủ động, thừa thắng xông lên. Rồi sau đó là một loạt các chiến thắng khác được Nguyễn Trãi kể ra với giọng điệu vô cùng hăm hở, vui mừng, tự hào trước sự chiến đấu anh dũng của quân dân ta.

Đọc những câu văn miêu tả cảnh chiến trận, ta cũng như mường tượng ra được khung cảnh lúc bấy giờ với sự đối lập, tương phản tương đối rõ ràng giữa một bên là khí thế áp đảo của ta với tâm thế tự tin của người chiến thắng dâng cao với một bên là sự hèn nhát, nhụ nhã, ê chề của kẻ thù:

Gươm mài đá, đá núi cũng mòn

Voi uống nước, nước sông phải cạn.

Đánh một trận, sạch không kình ngạc

Đánh hai trận tan tác chim muông.

Cơn gió to trút sạch lá khô,

Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.

Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,

Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.

Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường

Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước

Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,

Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờNếu như với chiến thắng, hào khí của ta, tác giả sử dụng giọng điệu tự hào hùng tráng thì đối với quân giặc, ông đặc biệt sử dụng giọng điệu khinh bỉ, châm biếm. Và giọng văn cứ thế đan xen, thay đổi một cách linh hoạt để đến cuối cùng, khi kết thúc bài cáo, Nguyễn Trãi chuyển sang giọng văn hiền hòa, chậm rãi, khoan thai:

Xã tắc từ đây vững bền

Giang sơn từ đây đổi mới

Lời văn như chứa chan niềm vui mừng khôn xiết trước độc lập tự do của đất nước, là sự khẳng định nền độc lập chủ quyền đáng được hưởng của dân tộc Đại Việt đồng thời thể hiện niềm tin tưởng mãnh liệt trước sự thay da đổi thịt, sự lớn mạnh của đất nước.

Chứng minh Đại Cáo Bình Ngô là áng thiên cổ hùng văn – Mẫu số 2

Nguyễn Trãi để lại sự nghiệp văn học đồ sộ, giàu giá trị cả về nội dung và nghệ thuật. Trong kho tàng tác phẩm ấy ta không thể không nhắc đến Bình Ngô đại cáo vốn được mệnh danh là áng thiên cổ hùng văn. Tác phẩm không chỉ xuất sắc về nội dung mà còn mang những đặc sắc về nghệ thuật.

Tác phẩm được viết bởi Nguyễn Trãi dưới sự chỉ đạo của chủ tướng Lê Lợi sau khi nhân dân ta giành thắng lợi, đánh tan quân Minh xâm lược. Văn bản được viết ra nhằm tuyên bố với toàn dân về việc kết thúc thắng lợi vẻ vang chống quân xâm lăng. Đây được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc sau Nam quốc sơn hà. Đồng thời tác phẩm cũng được đánh giá là áng thiên cổ hùng văn tức áng văn chương hùng tráng được lưu truyền đến cả muôn đời sau. Để trở thành một áng văn bất hủ muôn đời như vậy chắc chắn Bình Ngô đại cáo phải có nội dung xuất sắc, lại đồng thời phải có một bút pháp điêu luyện, tài ba. Chỉ khi hội tụ đầy đủ hai yếu tố ấy, thì mới xứng danh áng thiên cổ hùng văn.

Áng “thiên cổ hùng văn” tức là áng văn hùng tráng được lưu truyền đến cả nghìn đời. Để có được danh xưng ấy, chắc chắn đòi hỏi ở đó phải là một tác phẩm văn chương xuất sắc cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Đồng thời cũng kể phải đến những giá trị lịch sử, tư tưởng vĩ đại, có dấu ấn và ý nghĩa đến muôn đời. Nhưng có lẽ, một tác phẩm hay có thể lưu truyền đến được nghìn đời như vậy phải chạm đến được trái tim, cảm xúc của các thế hệ bao đời; phải có ý nghĩa tư tưởng lớn lao phù hợp với mọi thời đại… Bình Ngô đại cáo là một áng văn bất hủ như thế.

Đã trải qua bao nhiêu năm, nhưng chắc hẳn dân tộc ta vẫn luôn tự hào khi có một bản hùng văn tráng lệ như Bình Ngô đại cáo. Tác phẩm đã khơi dậy lòng yêu nước, lòng tự tôn dân tộc, khát vọng hòa bình, ý chí bất khuất trên con đường đấu tranh bảo vệ đất nước. Biết bao nhiêu cảm xúc mà Nguyễn Trãi đã để tràn lên ngòi bút. Có sự kiên quyết, vững trãi trong lời mở màn đầu tiên.

Trên cơ sở khẳng định chủ quyền của dân tộc, Nguyễn Trãi đã vạch trần tội ác cũng như âm mưu xâm lược của chúng. Ông đã thật tài tình khi sử dụng các từ nhân, thừa cơ để vạch trần luận điệu bịp bợm, xảo trá của chúng phù Trần diệt Hồ. Chúng lấy cớ phù Trần diệt Hồ mà thực tế là để đàn áp, vơ vét tài sản, của cải của nhân dân ta. Chúng có những hành động vô cùng dã man: Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn/ Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ; thu thuế nặng nề: Nặng thuế khóa sạch không đầm túi, chúng độc ác đến mức còn không tha cho cả những sự vật vô tri: Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,… Tội ác của chúng không chỉ khiến nhân dân căm hận mà trời đất cũng không tha thứ. Đọc từng câu thơ ta cũng thấy xót xa cho thân phận của người dân khi phải chịu đựng ách áp bức của giặc Minh.

Bởi vậy, những anh hùng hào kiệt bấy giờ sao có thể khoanh tay đứng nhìn cảnh đồng bào ta phải đổ máu trước lũ giặc ngoại xâm. Người anh hùng Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa trong khi còn gặp vô vàn khó khăn, nhưng bằng sự kiên trì, óc phán đoán sáng suốt ông đã dũng cảm vượt qua mọi trở ngại ấy. Nghĩa quân anh hùng, dũng cảm tiến đánh những vị trí khác nhau khiến kẻ thù sức cùng lực kiệt. Giọng văn, nhịp điệu đoạn thơ trở nên dồn dập, hứng khởi hơn bao giờ hết: Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,/ Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay; Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm/ Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm. Quân ta đã dành chiến thắng vang dội, điểm sáng ở đây chính là chiến thắng dựa trên tư tưởng nhân nghĩa: Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân để thay cường bạo. Ta giành chiến thắng, không tiêu diệt kẻ thù đến tận cùng, mà vẫn chừa ra cho họ con đường sống: Họ đã tham sống sợ chết, mà hoà hiếu thực lòng/ Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức/ Chẳng những mưu kế kì diệu/ Cũng là chưa thấy xưa nay. Vì nhân dân nên mới khởi nghĩa, trong cuộc khởi nghĩa nhân dân cũng chính là lực lượng nòng cốt. Đến khi tha cho kẻ thù cũng để nhân dân nghỉ sức. Nhắc đến nhân dân với vị trí quan trọng như vậy chỉ xuất hiện trong tư tưởng của Nguyễn Trãi. Nhân dân là cốt lõi trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi.

Suốt hai mươi năm bại nhân nghĩa, nát cả đất trời, từ con người thậm chí đến loài côn trùng cây cỏ cũng đều bị tàn sát thương tâm. Tội ác ấy nước Đông Hải không rửa sạch mùi, trúc Nam Sơn không ghi hết tội, muôn đời chứng cớ còn ghi. Mỗi cảnh người, cảnh nhà, cảnh đất nước đều tan hoang dưới lưỡi lê của loài khát máu… Làm sao chúng ta quên? Nguyễn Trãi như chạm vào nỗi đau nhức nhối đến tận tim gan, xương tủy, mà hiển nhiên nhận ra biết bao kẻ thù, đâu chỉ giặc Minh trong suốt chiều dài lịch sử giữ nước cũng đều mang chân tướng của những kẻ bạo tàn. Vì thế mà một nỗi đau như làm trỗi dậy nhiều nỗi đau để rồi không được quên sứ mệnh phải bảo vệ đất nước, đánh đuổi bè lũ kia.

Hơn thế, có cả sự trăn trở, lo âu cho vận mệnh đất nước với tấm lòng ái quốc, thương dân chứa chan. Không phải ngẫu nhiên Nguyễn Trãi dùng đến hơn hai mươi câu văn để nói về chủ tướng Lê Lợi. Một hình mẫu của bậc anh hùng bước ra từ đời sống của nhân dân. Từ xuất thân đến cách xưng hô đều rất gần gũi, Lê Lợi đau nỗi đau dân tộc như dân mình, căm thù và nung nấu quyết tâm trả thù giặc như dân mình, khát vọng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để đánh giặc như dân mình. Từ thấu hiểu, thương yêu đến hành động, vị lãnh tụ ấy đã biến yếu thành mạnh, lấy ít địch nhiều, sáng tạo ra những cách đánh xuất kì, mai phục dần dần tiến đến những thắng lợi vẻ vang. Nhưng đọc Bình Ngô đại cáo chắc chắn ai cũng biết, quân ta thắng đâu chỉ bởi có những thuận lợi trên, mà còn bởi nhân dân bốn cõi một nhà, tướng sĩ một lòng phụ tử và luôn nêu cao tinh thần.

Trước tác của Bình Ngô đại cáo vốn là một văn kiện lịch sử và rồi tác phẩm còn được coi đó là một áng “thiên cổ hùng văn”, áng văn chính luận bất hủ. Nhưng dù ở giá trị nào cũng không thể phủ nhận những đóng góp lớn lao của nó vào hệ tư tưởng độc lập dân tộc mang tầm vóc quốc tế. Tầm vóc lớn lao ấy của nó một lần nữa khẳng định đây là một bản tuyên ngôn độc lập đầy tự hào của dân tộc Việt Nam, thể hiện lòng yêu nước sâu sắc muôn dân và khát vọng hòa bình của toàn nhân loại.

Chứng minh Đại Cáo Bình Ngô là áng thiên cổ hùng văn – Mẫu số 3

Trong văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Trãi là nhà văn chính luận lỗi lạc hơn cả. Ông để lại khối lượng văn chính luận khá đồ sộ, trong đó Bình Ngô Đại Cáo được coi là áng “thiên cổ hùng văn” bậc nhất trong văn học chữ Hán cổ điển nước ta.

Có thể hiểu “thiên cổ hùng văn” là áng văn hào hùng muôn dời. Trước Nguyễn Trãi, thời Lý – Trần đã có những áng văn chính luận nổi tiếng như Chiếu dời đô (Lí Công Uẩn), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn). Nhưng chỉ đến Bình Ngô Đại Cáo, tính chất hùng ca mới được thể hiện một cách toàn diện từ nội dung tư tưởng đến các hình thức nghệ thuật. Âm hưởng hùng tráng được khởi đầu từ chính nhân để sáng tác. Đại cáo không phải là bài cáo thông thường mà là bài cáo mang tính chất quốc gia trọng đại. Bình Ngô Đại Cáo là áng văn yêu nước lớn của thời đại, là bản tuyên ngôn về chủ quyền độc lập dân tộc, bản cáo trạng tội ác kẻ thù, bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Tính chất hùng tráng còn được thể hiện trong quy mô, bố cục của bài Cáo. Dễ dàng nhận thấy Bình Ngô Đại Cáo là áng văn dài, nội dung lớn, chia làm bốn đoạn được đánh số như trong văn bản, mỗi đoạn đều có trọng tâm. Đoạn thứ nhất khẳng định tư tưởng nhân nghĩa và chân lí độc lập của dân tộc; đoạn thứ hai tố cáo, lên án tội ác của giặc Minh; đoạn thứ ba kể lại diễn biến cuộc chiến từ mở đầu đến thắng lợi hoàn toàn, nêu cao sức mạnh của tư tưởng nhân nghĩa và sức mạnh của lòng yêu nước; đoạn thứ tư tuyên bố kháng chiến thắng lợi, rút ra bài học lịch sử.

Bình Ngô Đại Cáo xứng đáng là áng “thiên cổ hùng văn” còn bởi nó chứa đựng tư tưởng lớn lao của Nguyễn Trãi. Xuyên suốt chiều dài tác phẩm là tư tưởng nhân nghĩa. Với Nguyễn Trãi, nhân nghĩa trước hết là yên dân, giúp dân trừ bạo, nhân nghĩa là chống xâm lược. Đạo quân vì dân chiến đấu chống giặc ngoại xâm cũng chính là đạo quân nhân nghĩa:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo…

Trên lập trường nhân nghĩa, Nguyễn Trãi đã phơi bày tội ác của các thế lực phản động và bè lũ xâm lược:

Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây hoạ,

Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh.

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.

Chắc hắn khi viết những dòng văn này, Nguyễn Trãi phải đau đớn và căm phẫn lắm. Tấm lòng nhân nghĩa của ông không thể dung thứ cho tội ác tày trời của quân giặc cũng như không thể thờ ơ trước tình cảnh muôn dân bị đày đọa khủng khiếp như thế. Và càng xót thương muôn dân bao nhiêu, con người ấy lại càng mài sắc ý chí đấu tranh tiêu diệt quân xâm lược bấy nhiêu. Lúc này, nhân nghĩa trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động của đội quân điếu phạt:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,

Lấy chí nhân để thay cường bạo.

Chiến đấu vì đại nghĩa nên đạo quân Lam Sơn luôn là đạo quân bách chiến bách thắng. Sức mạnh của nghĩa quân Lam Sơn là sức mạnh của tư tưởng nhân nghĩa hợp nhất với sức mạnh của lòng yêu nước. Thế cho nên hai lần cất quân xâm lược nước ta cũng là hai lần giặc Minh nhận những đòn thua thảm bại:

Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp;

Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng.

Tướng giặc bị cầm tù như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng.

Trước sự cầu xin tha tội của quân giặc, quân ta cũng không truy sát đến cùng mà thể lòng trời mở đường hiếu sinh. Thực chất, hành động nhân nghĩa đó có cội nguồn từ suy nghĩ để dân được nghỉ ngơi dưỡng sức: Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức. Như vậy, nhân dân là động lực, là sức mạnh, là đích đến của cuộc chiến và nhân nghĩa chính là tư tưởng bao trùm lên toàn bộ động lực, sức mạnh, mục đích đó. Có thể nói cả bài Cáo là khúc ca hùng tráng về tư tưởng nhân nghĩa.

Tính chất hoành tráng không chỉ được biểu hiện trong tư tưởng lớn lao đó mà còn được thể hiện đậm nét trong nghệ thuật đậm chất anh hùng ca của bài cáo. Nguyễn Trãi đã dựng lên bức tranh toàn cảnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Từ hình tượng đến ngôn ngữ, từ màu sắc đến âm thanh, nhịp điệu, tất cả đều mang đặc điểm bút pháp anh hùng ca.

Chiến thắng của ta, sức mạnh của ta, sự thất bại thảm hại của quân giặc và khung cảnh chiến trường… đều được biểu hiện bằng những hình tượng phong phú, đa dạng, đo bằng sự lớn rộng, kì vĩ của thiên nhiên:

– Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật -á

Miên Trà Lân trúc chẻ tro bay.

– Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,

Voi uống nước, nước sông phải cạn..

– Ninh Kiêu máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm

Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.

– Ghê gớm thay sắc phong vân phải đổi,

Thảm đạm thay ánh nhật nguyệt phải mờ.

Về mặt ngôn ngữ, trong nguyên văn cũng như bản dịch, các động từ mạnh liên kết với nhau thành những rung chuyển dồn dập, dữ dội. Các tính từ chỉ mức độ ở điểm tối đa tạo thành hai mảng trắng, đen đối lập, thể hiện khí thế chiến thắng của ta và sự thất bại của địch. Câu văn khi dài, khi ngắn, biến hoá linh hoạt trên nền nhạc điệu dồn dập, sảng khoái. Âm thanh giòn giã, hào hùng như sóng trào, bão cuốn. Đó là nhịp điệu của triều dâng, sóng dậy, hết lớp này đến lớp khác:

Ngày mười tám…

Ngày hai mươi…

Ngày hăm lăm…

Ngày hăm tám…

Đó là nhịp của gió lay, bão giật, trận này nối tiếp trận khác:

Gươm mài đá, / đá núi cũng mòn

Voi uống nước, / nước sông phải cạn.

Đánh một trận, / sạch không kình ngạc,

Đánh hai trận, / tan tác chim muông…

Chính bút pháp nghệ thuật đậm chất anh hùng ca này kết hợp với tư tưởng lớn lao, vĩ đại đã mang đến tính hùng tráng cho Bình Ngô Đại Cáo, đưa tác phẩm lên vị trí “thiên cổ hùng văn”.

Sau Bình Ngô Đại Cáo, văn học trung đại còn xuất hiện nhiều áng văn nghị luận khác nhưng có lẽ khó có sáng tác nào vượt lên được nỏ ở tính chất hùng tráng đó. Đọc áng “thiên cổ hùng văn” này, chúng ta mới phần nào cảm nhận được “sức mạnh hơn mười vạn quân” từ mỗi trang nghị luận của nhà tư tưởng, nhà văn kiệt xuất Nguyễn Trãi

—/—

Trên đây là Mở bài Bình Ngô Đại Cáo nâng cao do THPT Ninh Châu sưu tầm được, mong rằng với nội dung tham khảo này các em có thể triển khai bài văn của mình tốt nhất, chúc các em học tốt môn Văn!

Đăng bởi: THPT Ninh Châu

Chuyên mục: Lớp 10,Ngữ Văn 10

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button