Lớp 11Vật Lý

Khi nói về sự điều tiết của mắt, phát biểu nào sau đây là đúng?

Đáp án và lời giải chính xác cho câu hỏi “Khi nói về sự điều tiết của mắt, phát biểu nào sau đây là đúng?” cùng với kiến thức mở rộng là những tài liệu học tập vô cùng bổ ích dành cho thầy cô và bạn học sinh.

Câu hỏi : Khi nói về sự điều tiết của mắt, phát biểu nào sau đây là đúng?

A. Do có sự điều tiết, nên mắt có thể nhìn rõ được tất cả các vật nằm trước mắt

B. Khi quan sát các vật dịch chuyển ra xa mắt thì thể thuỷ tinh của mắt cong dần lên

Bạn đang xem: Khi nói về sự điều tiết của mắt, phát biểu nào sau đây là đúng?

C. Khi quan sát các vật dịch chuyển ra xa mắt thì thể thuỷ tinh của mắt xẹp dần xuống

D. Khi quan sát các vật dịch chuyển lại gần mắt thì thể thuỷ tinh của mắt xẹp dần xuống

Trả lời: 

Đáp án đúng: C. Khi quan sát các vật dịch chuyển ra xa mắt thì thể thuỷ tinh của mắt xẹp dần xuống

Cùng Top tài liệu tìm hiểu thêm về Mắt – và sự điều tiết của mắt các em nhé!

Kiến thức tham khảo về Mắt – và sự điều tiết của mắt

Mắt là cơ quan nhỏ bé nhưng vô cùng quan trọng trong đời sống con người. Mắt là cơ quan thị giác thực hiện chức năng nhìn, quan sát, thu nhận lại hình ảnh của sự vật, màu sắc để chuyển vào não xử lý và lưu trữ.

1. Cấu tạo của mắt

a. Cấu tạo bên ngoài

Nhìn bên ngoài, đôi mắt cơ bản có các bộ phận sau: lông mày, lông mi, mi mắt, tròng trắng, tròng đen…

b. Cấu tạo bên trong

Mắt là một cơ quan có cấu tạo bên trong hết sức tinh vi trong đó giác mạc, thủy tinh thể và võng mạc là những bộ phận cơ bản để đảm bảo chức năng nhìn của mắt.

* Bán phần trước:

– Giác mạc

Giác mạc (lòng đen), là một màng trong suốt, rất dai, không có mạch máu có  hình chỏm cầu chiếm 1/5 phía trước của vỏ nhãn cầu. Đường kính của giác mạc khoảng 11 mm, bán kính độ cong là 7,7 mm. Chiều dày giác mạc ở trung tâm mỏng hơn ở vùng rìa.

Bán kính cong mặt trước giác mạc tạo thành lực hội tụ khoảng 48,8D, chiếm 2/3 tổng công suất khúc xạ của nhân cầu. Về phương diện tổ chức học giác mạc có 5 lớp, từ ngoài vào trong bao gồm: biểu mô, màng Bowmans, nhu mô, màng Descemet, nội mô.

Khi nói về sự điều tiết của mắt, phát biểu nào sau đây là đúng? (ảnh 2)

– Mống mắt – Đồng tử

Mống mắt là vòng sắc tố bao quanh đồng tử, quyết định màu mắt (đen, nâu, xanh..). Đồng tử là lỗ nhỏ màu đen, nằm ở trung tâm của mống mắt. Đồng tử có thể co lại hoặc giãn ra nhờ các cơ nằm trong mống mắt để điều chỉnh lượng ánh sáng vào mắt.

– Thủy tinh thể

Thủy tinh thể nằm sau mống mắt. Thủy tinh thể trong suốt làm nhiệm vụ như một thấu kính hội tụ cho ánh sáng đi qua, tập trung các tia sáng đúng vào võng mạc để tạo thành hình ảnh rõ nét, giúp ta có thể nhìn xa gần.

* Bán phần sau:

– Dịch kính

Dịch kính là chất dạng gel trong suốt lấp đầy buồng nhãn cầu ở phía sau thể thuỷ tinh. Khối dịch kính chiếm chừng 2/3 thể tích nhãn cầu.

Khi nói về sự điều tiết của mắt, phát biểu nào sau đây là đúng? (ảnh 3)

– Dây thần kinh mắt- mạch máu võng mạc

Dây thần kinh thị giác là nơi tập hợp các bó sợi thần kinh có chức năng dẫn truyền các tín hiệu nhận được ở võng mạc giúp ta nhận biết ánh sáng, hình ảnh… Mạch máu võng mạc  gồm động mạch và tĩnh mạch trung tâm võng mạc cung cấp chất dinh dưỡng giúp nuôi dưỡng mắt.

Một số bệnh nội khoa có liên quan đến rối loạn mạch máu võng mạc như cao huyết áp, xơ vữa động mạch, bệnh đái tháo đường…

– Hoàng điểm

Võng mạc là một màng bên trong đáy mắt có nhiệm vụ tiếp nhận ánh sáng từ thủy tinh thể hội tụ lại. Trung tâm võng mạc là hoàng điểm (điểm vàng), nơi tế bào thị giác nhạy cảm nhất giúp nhận diện nội dung, độ sắc nét của hình ảnh.

Thông qua các dây thần kinh thị giác võng mạc sẽ chuyển năng lượng ánh sáng thành tín hiệu thị lực và gửi về trung khu phân tích ở não. Võng mạc có nhiều lớp tế bào, đáng chú ý là lớp tế bào que, tế bào nón và lớp tế bào thần kinh cảm thụ.

Tế bào que, tế bào nón nhận biết hình ảnh, màu sắc. Lớp tế bào biểu mô sắc tố võng mạc giúp nuôi dưỡng và bảo vệ tế bào que, tế bào nón trước tác động gây hại của tia cực tím và ánh sáng xanh chất chuyển hóa gây hại võng mạc.

Khi nói về sự điều tiết của mắt, phát biểu nào sau đây là đúng? (ảnh 4)

2. Sự điều tiết của mắt

a. Định nghĩa điều tiết

Điều tiết là cơ chế giúp cho mắt tăng công suất khúc xạ bằng cách thay đổi hình dạng thể thủy tinh để ảnh của vật luôn hiện trên võng mạc. 

Mắt chính thị khi nhìn vật ở xa, các tia sáng song song sẽ hội tụ trên võng mạc tạo nên một hình ảnh rõ nét. Khi đưa vật lại gần mắt nếu chỉ xét về mặt quang học thì các tia sáng sẽ hội tụ ở sau võng mạc, ảnh thu được sẽ bị nhòe nhưng trên thực tế mắt chúng ta vẫn nhìn rõ thậm chí còn rõ hơn do kích thước của ảnh lớn, đó là nhờ có sự điều tiết của mắt.

Mắt có khả năng làm rõ, làm xuất hiện trên trung tâm võng mạc ảnh của vật sáng, dù vật sáng ở vị trí bất kỳ nào trong khoảng từ viễn điểm đến cận điểm, khả năng đó được gọi là chức năng điều tiết của mắt. Nếu không, ảnh của một vật đặt gần mắt trong khoảng từ viễn điểm đến cận điểm sẽ nằm ở phía sau võng mạc, mắt không thể nào nhìn rõ được vật đó.

b. Cơ chế điều tiết

Có nhiều thuyết về cơ chế điều tiết như thuyết Helmholtz, thuyết hiện đại, cơ chế thần kinh nhưng các thuyết đều thừa nhận khi điều tiết do có sự buông giãn lực căng của bao thể thủy tinh để làm tăng độ dầy và giảm bớt bán kính cong của thể thủy tinh. Theo Gullstrand khi không điều tiết bán kính cong mặt trước thể thủy tinh là 10mm khi điều tiết giảm xuống còn 5,33mm do đó làm tăng công suất khúc xạ của thể thủy tinh từ 19D lên 33D, nâng tổng công suất khúc xạ của mắt từ 58,64D lên 70,57D.

Yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động điều tiết của mắt là sự đàn hồi của thể thủy tinh và trương lực cơ thể mi. Ở người già, nhân xơ hóa làm giảm sự đàn hồi của thể thủy tinh nên khi cơ thể mi co cũng không làm thay đổi bề dày và bán kính cong của thể thủy tinh. Ngược lại khi cơ thể mi bị liệt (như khi tra thuốc liệt điều tiết) thì thể thủy tinh dù còn khả năng đàn hồi tốt cũng không tự thay đổi được độ dày và bán kính cong để nâng công suất khúc xạ. Do vậy khi điều tiết phải có sự phối hợp hài hòa của thể thủy tinh và cơ thể mi.

Khả năng điều tiết của mắt phụ thuộc vào sự thay đổi hình dạng của thể thủy tinh, trên lâm sàng được thể hiện bằng:

– Khoảng điều tiết: được tính theo khoảng cách giữa điểm xa nhất của mắt và điểm gần nhất mà mắt còn có thể nhìn rõ.

– Biên độ điều tiết: là khả năng điều tiết tối đa của mắt được tính theo số điốp thay đổi công suất khúc xạ của thể thủy tinh khi điều tiết [7], [18]. Biên độ điều tiết giảm dần theo tuổi, biên độ điều tiết trung bình ở tuổi 40 khoảng 6,00D, dưới 40 tuổi, cứ 4 năm thì biên độ điều tiết giảm đi 1,00D. Trên 40 tuổi điều tiết giảm nhanh hơn, đến 48 tuổi thì 4 năm giảm 0,50D.

c. Các yếu tố ảnh hưởng đến chức năng điều tiết

– Tuổi: Ở trẻ em, lực điều tiết rất mạnh, biên độ điều tiết rất lớn (14D), nên cận điểm rất gần mắt. Khi tuổi tăng, sức điều tiết và biên độ điều tiết giảm dần, cận điểm ngày càng xa mắt. Biên độ điều tiết giảm dần không hồi phục theo tuổi do giảm khả năng đàn hồi của thể thủy tinh gọi là hiện tượng lão thị. Thường sau khoảng 40 tuổi khả năng điều tiết giảm nhanh nên bệnh nhân đọc sách và nhìn gần thấy mờ nhưng nhìn xa vẫn rõ. Do đó bệnh nhân chỉ cần phải điều chỉnh thị lực nhìn gần bằng kính hội tụ. Sau khoảng 75 tuổi thì mất hẳn khả năng điều tiết.

Đăng bởi: THPT Ninh Châu

Chuyên mục: Lớp 11, Vật Lý 11

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button