Lớp 10Ngữ Văn

Huyện Trìa, Đế Hầu, Sư Nghêu mắc lỡm Thị Hến – Tuồng (Tóm tắt, hoàn cảnh st, nội dung, nghệ thuật, sơ đồ tư duy) – Văn 10

Khái quát Tác giả – Tác phẩm: Huyện Trìa, Đế Hầu, Sư Nghêu mắc lỡm Thị Hến bao gồm tìm hiểu về tuồng và hoàn cảnh sáng tác, thể loại, bố cục, tóm tắt, giá trị nội dung, đặc sắc nghệ thuật tác phẩm Huyện Trìa, Đế Hầu, Sư Nghêu mắc lỡm Thị Hến – SGK Văn 10 Chân trời sáng tạo.

Huyện Trìa, Đế Hầu, Sư Nghêu mắc lỡm Thị Hến – Tuồng

I. Khái quát tác phẩm Huyện Trìa, Đế Hầu, Sư Nghêu mắc lỡm Thị Hến

1. Xuất xứ

a. Tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến

Bạn đang xem: Huyện Trìa, Đế Hầu, Sư Nghêu mắc lỡm Thị Hến – Tuồng (Tóm tắt, hoàn cảnh st, nội dung, nghệ thuật, sơ đồ tư duy) – Văn 10

– Nghêu, Sò, Ốc, Hến thuộc loại tuồng đồ (tuồng hài), châm biếm sâu sắc nhiều thói hư tật xấu trong xã hội và lật tẩy bộ mặt xấu xa của một số kẻ thuộc bộ máy cai trị ở địa phương trong xã hội xưa.

– Đây là tác phẩm tiêu biểu trong di sản tuồng truyền thống và là vở tuồng đồ thuộc loại đặc sắc nhất

– Tích tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến có một số dị bản, kể khác nhau ở một vài chỗ, trong đó có tình tiết đánh ghen cuối vở

– Văn bản Nghêu, Sò, Ốc, Hến do Hoàng Châu Ký chỉnh lí (1957) gồm có tất cả ba hồi.

b. Văn bản Huyện Trìa, Đế Hầu, Sư Nghêu mắc lỡm Thị Hến

– Trích từ vở tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến, là lớp XIII của vở tuồng, nhan đề do người biên soạn đặt

– Văn bản in trong Tổng tập Văn học Việt Nam trọn bộ 42 tập, tập 12, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học xã hội, năm 2000, trang 544 – 548

2. Thể loại

Tuồng, luông tuồng, hát bộ, hát bội là những cách gọi một loại hình nhạc kịch thịnh hành tại Việt Nam. Khác với các loại hình sân khấu khác như chèo, cải lương.

Tuồng mang theo âm hưởng hùng tráng với những tấm gương nhân vật tận trung báo quốc, xả thân vì đại nghĩa, những bài học về lẽ ứng xử của con người giữa cái chung và cái riêng, giữa gia đình và Tổ quốc, chất bi hùng là một đặc trưng thẩm mỹ của nghệ thuật Tuồng. 

Có thể nói Tuồng là sân khấu của những người anh hùng…Loại hình này khác biệt với cải lương xã hội, cải lương Hồ Quảng (cải lương tuồng cổ), thoại kịch, opera là những hình thức diễn xướng sân khấu mới ra đời trễ và được chuộng hơn.

3. Nội dung chính

Đoạn trích kể lại cảnh Thị Hến lừa huyện Trìa, đề Hầu và thầy Nghêu đến nhà mình để vạch trần bản chất ham mê sắc đẹp, ý đồ bất chính và dung tục của những kẻ này.

4. Giá trị nội dung

– Văn bản đem đến một tình huống gây cười khi cả ba kẻ mê sắc đều tụ hội ở nhà Thị Hến và được một phen bẽ mặt, xấu hổ, nhục nhã

– Phê phán, châm biếm và mỉa mai những kẻ mê sắc, xử kiện không công bằng, bị cái đẹp làm mờ mắt, cuối cùng lại bẽ mặt dưới tay một ả góa

– Đưa ra bài học cảnh tỉnh, răn đe đối với mọi người, không nên sa đọa vào cái đẹp mà đánh mất đi lý trí

5. Giá trị nghệ thuật

– Thể hiện đặc trưng của sân khấu chèo qua nhân vật, tình huống, lời thoại, cử chỉ

– Giọng điệu mỉa mai, châm biếm

– Ngôn từ thuần Việt, dung dị, dễ hiểu

6. Tác phẩm Huyện Trìa, Đế Hầu, Sư Nghêu mắc lỡm Thị Hến

(Lược dẫn: Sau khi được Huyện Trìa tha bổng ở huyện đường, Thị Hến bị Sư Nghêu, một qñ thau tu phá giới trong cùng đến hạ gầm chuyện ái ân. Thị bày ra một kế nhằm chấm dứt mọi sự quấy nhiễu của Su Nghêu cùng bọn chúc sắc, nhằm “Giữ tiết hạnh một đường cho toại”. Thị cho mời cả ba gã đàn ông mê gái ~ Sư Nghêu, Đê Hâu, Huyện Trìa – cùng đến nhà mình và cả ba cùng sập bẫy. Dưới đây là lớp XIX, cũng là lớp kết thúc ở Nghêu, Sò, Ốc, Hến. Nhan đề do người biên soạn đặt).

THỊ HẾN: – Từ sai người tới đó

Sao chưa thấy tới đây?

Ông Huyện Trìa bị mụ Huyện trói tay,

Thầy Đề Lại mắc cô Đề buộc cổ.

Còn lão sãi trọc văng tới nhà mà múa mỏ,

Hay là ta may hết thói lăng nhăng?

Dốc thờ chồng suối bạc cho toàn,

Lại bị quỷ nhà cháy tới phá.

SU NGHÊU: – Trời tăm tối đi hầu bổ ngửa,

Cây bụi bờ rờ chẳng ra đường.

(Này! Này, Thím ơi! Mỗ đã sang. Mở cửa mình vào với!)

THỊ HẾN: – Chào thầy mới tới

Trà nước vội vàng.

Đành lòng đây đó giao duyên

(Nhưng) Sợ nỗi thế gian đàm tiếu (thôi.)

SU NGHÊU: – Vốn đà trước liệu

Lọ phải sau lo

Kê kinh chuông mõ trả cho chùa

Cày, cấy, đâm, xay đành phận mỗ.

(Này này!) Khuyên cùng với đó,

Chớ khá phụ đây,

Tuy làm vẫy cũng tiếng ông thầy,

Ở như vậy uống tài bà goá.

(Tiếng Đề Hâu kêu cửa)

THỊ HẾN: (- ỦaI)

Tiếng ai kêu chỉ lạ

Hay là thầy Lại đến đây?

(Này! Này! Mô Phật!)

Đi Ra kẻo tội với thầy,

Ở đó ắt tai trước mắt! (Chớ chẳng chơi đâu!).

SU NGHÊU: ( Phật Phật! Trời Trời!)

Lão Để Lại làm chi quá ngặt,

Khiến thầy tu chạy đã hầu điên.

(Thím ơi! Thím!)

Trên chỗ nào khác chỉ cho min!

(Chớ) Ra cửa có thảy Đề đứng đói!

THỊ HẾN: – Dưới phản ngựa thầy mau xuống đó.

(Để tôi) – Ra ngõ mời người đặng vào đây,

Dầu chuyện chỉ chịu khó một giây,

(Để) Người về đã, sẽ vầy hai mặt.

(Sư Nghêu chui xuống gầm phản, Đề Hâu nào)

Lại nói – Thưa thầy!

Nghe kêu lật đật,

Mở cửa vội vàng,

Thỉnh lại gia trang”,

Sẽ bày tình tự.

ĐỀ HẦU: – Ơn mỗ cứu cho bữa trước

Nay nường còn nhớ chưa quên?

Sao đã cùng ông Huyện kết duyên,

Mà vội phụ thầy Đề tình ngãi, (hử?)

THỊ HẾN: – Xin thầy hãy nghĩ lại

Quan huyện dạy (tôi) phải vâng,

Đành đôi ta là cái duyên hằng?

(Thế mà) Không nghe đó, sao cho nên việc, (thưa thầy?)

ĐỀ HẦU: – Phải lắm! Thế mới biết

Đèn không khêu không tó,

Chuông không đánh không kêu.

(Ta nói thiệt)

Đó không thương đây cũng quyết liều,

(Chữ) Duyên đã khẳn? nàng tua! giữ dạ.

THỊ HẾN: – Ái ân việc còn thong thả,

Rượu trà xin hãy vui chơi

Chẳng mấy khi đặng hiệp một nơi

Bây giờ đã gặp nhau hai mặt

(Chừ có việc này)

Tôi xin hỏi thiệt, thầy khá tỏ bày!

Thầy hằng xem luật lệ xưa nay,

Tu (mà) phá giới tội chỉ khinh trọng, (thưa thầy?)

ĐỂ HẦU: – Lễ tai nghe quá chướng

Trong luật lệ rất to,

Hễ phá giới tức hành trảm quyết!

(Huyện Trìa tới)

HUYỆN TRÌA: (nói ngoài cửa)

– Viên ngoại diêu văn tế thuyết

Môn tiền hữu ngã quan nhon?

Mở cửa ra! Mau tiếp đại tân?!

Ớ mụn Kếp kíp ra mời quan Huyện, (nào!)

ĐỀ HẦU: ( Chui chao!)

Văn ngôn sắc biến! Sắc biến!

Thính thuyết hồn kinh! Hôn kinh!”

Nếu mà ông Huyện tri tình,

Chắc hẳn thầy Đề mang khổi

(Thâu Đê trốn, ông Huyện nào)

HUYỆN TRÌA: – Việc thuế má, án từ quá gấp

Đêm tối tăm đường xá (lại) khó đi!

Tưởng mu đà tới lúc ngủ khi

Làm mỗ chạy ướt hầu bổ sấp.

Khi sớm, tối đợi mình khổ lắm

Từ rày xin tới mụ cho liên

Gẫm đà phải nợ phải duyên,

Thôi chớ làm hòn, làm giận, (nữa mài)

THỊ HẾN: – Nghĩ mà tủi phận

Đâu dám trách ai

(Nhưng tôi nghĩ lại, như ông)

Vợ còn, còn sẵn, thiếu chỉ

(Mà buộc tôi không đặng?)

Trai quá gái không thường lệ

(Tôi cũng) Cam phận thiếp muối trường cơm tẻ.

(Nhưng mà tôi)

E chánh thê cả tiếng nhiều lời (đó thôi!)

(Cho nên tôi)

Lánh một xóc, lọ một nơi

Khó chối thầy, giàu ai chẳng luy!

HUYỆN TRÌA: (Ui chao! Chừ)

Ta nghỉ ngơi kẻo mệt,

Nói dài lắm cũng buồn

Khuyên khuyên đừng chớ làm tuồng,

Bót bớt xin đừng nói bợm!

THỊ HẾN: – Sợ gan ruột đàn ông nhiều lớp

Việc nợ duyên dễ thiếp mấy nơi?

Rượu trà hãy xin mời,

Ái ân rỗi có đó.

(Bây giờ tôi xin nhờ quan)

Vốn tôi chưa rõ,

Xin hỏi một lời:

Người từng xem luật lệ nơi nơi

Có một việc ở đời lạ lạ.

Rầy có chú thầy tu rất chạ

Hay đến nhà mà ve bà goá;

Đã xuất gia phá giới làm vợ,

Thời luật pháp xử chỉ cho rố?

HUYỆN TRÌA: ( Quẩy!)

Nói làm chỉ việc rối

Ai có tiếc làm chi.

Phàm tu hành mà đã xuất gia,

Có phá giới đánh đòn phát lạc”!

SU NGHÊU: (Từ gầm giường bò ra)

‘. Đánh đòn phát lạc: đánh đòn trị tội bằng roi.

– Tâm khoái lạc! Tâm khoái lạc!!

Thiện xử phân! Thiện xử phân!?

(Bẩm quan lớn, lời quan dạy rất mình, chứ thầy Đề ngồi trong

thúng mơ kia nói mới ức chế! Bẩm quan lớn!)

Chon vi phụ mẫu chi dân”.

(Chữ thầy Đề)

Chỉ thị đâm ô chỉ loại!?

Như thầy tu phá giới,

Thời bất quá đánh đòn,

Còn thầy Lại phạm giam

Thật ắt là tội chết!

ĐỀ HẦU: (Lôm côm bò ra)

– Đầu đuôi tại mụ Hến,

Mưu mẹo bởi lão thầy tu.

Rày quan Huyện trớ trêu,

Mắc đàn bà quá tội.

Tôi cam chịu lỗi

Ai biết mà chê

Trong nha môn từ Huyện đến Đề

Còn tạo lệ không mời luôn thể

HUYỆN TRÌA: – Thầy Lại làm nên quá tệ,

Như nhà sư bắt chước cố trêu.

Mắc cỡ lêu lêu!

Lêu lêu mắc cðI

Rất nên quái gở,

Làm việc lăng nhăng!

Hễ miếng to bây quyết kiếm ăn,

Còn đồ vật bay làm sạch trụi.

Thầy Tu khá lui về cho khỏi

Tâm khoái lạc! Tâm khoái lạc! lòng vui sướng! Lòng vui sướng!

Thiện xử phân! Thiện xử phân! khéo phán xử! khéo phán xử!

Chơn vi phụ mẫu chỉ dân: là cha mẹ dân đích thực.

Chỉ thị dâm ô chỉ loại: đó tật là loại dâm ô.

Đề Lại mau cõng mỗ về nhà.

Dặn lòng thôi chớ ngứa nghề,

Giữ đạ đừng tham của lạ.

(Hạ)

THỊ HẾN: – Tâm khoái đã! Tâm khoái dã!”

Kế hoan nhiên! Kế hoan nhiên!?

Thế thầy tu hết tới ngõ nói điên,

Rày quan huyện hết đến nhà làm bậy.

Giữ tiết hạnh một đường cho toại

Nỗi nhon duyên đôi chữ không màng.

(Hạ)

(Trích Nghêu, Sò, Ốc, TIến, in trong Tổng tập Văn học Việt Nam trọn bộ 42 tập, tập 12,

Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, 2000, tr. 544 – 548)

7. Sơ đồ tư duy

Huyện Trìa, Đế Hầu, Sư Nghêu mắc lỡm Thị Hến - Tuồng (Tóm tắt, hoàn cảnh st, nội dung, nghệ thuật, sơ đồ tư duy)

II. Câu hỏi vận dụng kiến thức tác phẩm Huyện Trìa, Đế Hầu, Sư Nghêu mắc lỡm Thị Hến

Câu 1: Nêu các đặc điểm của tuồng đồ được thể hiện qua văn bản Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu mắc lỡm Thị Hến

Lời giải:

Giới nghiên cứu nói chung quan niệm tuồng đồ là loại tuồng hài (tuồng gây cười), được xây dựng trên cảm hứng hài kịch, thiên về châm biếm, đả kích, không bị ràng buộc vào những điển luật nghiêm ngặt

Đề tài: Lấy đề tài trong cuộc sống đời thường. Ở đây chính là việc 3 nhân vật Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu ham mê nữ sắc để rồi phải tự gánh hậu quả

Nhân vật: Các nhân vật chính thường có danh xưng nghề nghiệp Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu. Tính cách nhân vật không thay đổi. xuyên suốt cả đoạn tuồng

Lời thoại: Có cả đối thoại, độc thoại.

Câu 2: Chỉ ra mâu thuẫn giữa các nhân vật trước và trong phiên tòa. Phân tích nguyên nhân làm nảy sinh, chuyển hóa mâu thuẫn đó.

Lời giải:

+ Huyện Trìa và Đề Hầu: Đã biết mặt lão Đề hay nói bậy/ Mồm xà cáng vinh râu ngoe ngoét

Từ trước, Hyện Trìa đã biết được tính cách của Đề Hầu: hay nói bậy, điêu toa, đáng ghét và đáng ngờ

Câu 3: Phân tích tín cách của nhân vật Thị Hến trong lớp tuồng XIX

Lời giải:

Một người phụ nữ góa chồng thông minh, ma mãnh: ”Kế hoan nhiên! Kế hoan nhiên”, lừa được cả 3 tên đàn ông vào bẫy và khiến chúng tự cúi mình nhận tội. Một người phụ nữ có bản lĩnh

Thị Hến còn là một người biết gìn giữ phẩm hạnh:”Giữ tiết hạnh một đường cho toại/ Nỗi nhân duyên đôi chữ không màng”

Câu 4: Bạn có nhân xét thế nào về tình cảm, cảm xúc của tác giả thể hiện qua ngôn ngữ kịch trong Huyện Trìa xử án?

Lời giải:

Trong cả đoạn trích, tác giả như bày tỏ sư mỉa mai, châm biếm đối với từng hân vật trong từng lời thoại. Ai cũng là có khuyết điểm, mưu tính, bày kế và có tham vọng. Vú dụ như khi nói về Huyện Trìa, tác giả đã xây dựng hăn là một tên quan yếu kém nhưng ham tiền và sắc. tự cao tự đại

Câu 5: Xác định đề tài và nêu cảm hứng chủ đạo của văn bản Huyện Trìa xử án. Theo bạn, tích truyện của vở tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến được lấy từ đâu? Nêu một vài căn cứ giúp bạn nhận biết văn bản Huyện Trìa xử án (trong vở tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến) được sáng tác, lưu truyền theo phương thức truyền thống.

Lời giải:

+ Đề tài là những câu chuyện trong cuộc sống đời thường của nhân dân, mang tính đả kích châm biếm những nhân vật có thói hư tật xấu thời phong kiến. Ở đây chính là lấy từ hình ảnh những quan lại không liêm chính ngày xưa xử án 

+ Cảm hứng chủ đạo: Cuộc sống của con người trong xã hội phong kiến tiểu nông

+ Tích truyện của Nghêu, Sò, Ốc, Hến được lấy từ dân gian truyền miệng

+ Văn bản Huyện Trìa xử án (trong vở tuồng Nghêu, Sò, Ốc,Hến) được sáng tác, lưu truyền theo phương thức truyền miệng vì nó có nhiều dị bản khác nhau. Hơn nữa, đoạn tích được trích từ một vở tuồng đồ- thường được xây dựng, lưu truyền dưới dạng truyền miệng

>>> Xem trọn bộ: Tác giả – Tác phẩm Văn 10 Chân trời sáng tạo

—————————–

Trên đây THPT Ninh Châu đã cùng các bạn Khái quát về Tác giả – Tác phẩm: Huyện Trìa, Đế Hầu, Sư Nghêu mắc lỡm Thị Hến trong bộ SGK Văn 10 Chân trời sáng tạo theo chương trình sách mới. Chúng tôi hi vọng các bạn đã có kiến thức hữu ích khi đọc bài viết này. THPT Ninh Châu đã có đầy đủ các bài giới thiệu về tác giả tác phẩm các bộ sách mới Cánh Diều, Chân trời sáng tạo, Kết nối tri thức. Mời các bạn hãy click ngay vào trang chủ THPT Ninh Châu để tham khảo và chuẩn bị bài cho năm học mới nhé. Chúc các bạn học tốt! 

Đăng bởi: THPT Ninh Châu

Chuyên mục: Lớp 10,Ngữ Văn 10

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button