Lớp 12Ngữ Văn

Đất nào như đất ấy không đọc hiểu

Hướng dẫn tìm hiểu “Đất nào như đất ấy không đọc hiểu” giúp các bạn nắm chắc nội dung và giá trị nghệ thuật của bài thơ, từ đó học tốt môn Ngữ văn 12.

Đọc hiểu: Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu

“Có đất nào như đất ấy không?

Phố phường tiếp giáp với bờ sông.

Bạn đang xem: Đất nào như đất ấy không đọc hiểu

Nhà kia lỗi phép con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng.

Keo cú người đâu như cứt sắt,

Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng.

Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,

Có đất nào như đất ấy không?”

(Đất Vị Xuyên – Trần Tế Xương)

1. Xác định thể thơ và phương thức biểu đạt chính của văn bản.

2. Tìm các tính từ dùng để miêu tả những thói xấu của con người bài thơ

3. Tìm và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong văn bản

4. Anh chị hiểu như thế nào về hai câu kết của tác phẩm?

5. Viết đoạn văn 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh chị về một trong những thói xấu đã được nhà thơ chỉ ra qua tác phẩm của mình?

Phân tích – Bài mẫu số 1

       Trần Tế Xương là một nhà thơ tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam, những áng thơ văn của ông không đơn thuần là để thỏa mãn tâm hồn thi nhân mà còn truyền tải được nhiều quan niệm, tư tưởng, cách đánh giá của cá nhân nhà thơ về thời đại mà mình sinh sống. Cái mới ở Trần Tế Xương, đó chính là ông không thể hiện những quan điểm ấy theo lối thơ văn thông thường mà ông thể hiện đặc sắc qua bút pháp trào phúng. Vì vậy mà đọc các trang thơ của Trần Tế Xương ta vừa bắt gặp cái đả kích châm biếm từ nhẹ nhàng đến mạnh mẽ sâu cay, cái được đả kích là những thói hư tất xấu, những tiêu cực, hạn chế trong xã hội đương thời. Đồng thời, thông qua các áng văn trào phúng ấy, tư tưởng, cảm xúc của nhà thơ lại được bộc lộ rõ nét hơn bao giờ hết, đó là thái độ bất bình, phẫn uất và cả sự xót xa, đau đớn trước nghịch cảnh thực tại. Tiêu biểu cho khuynh hướng thơ văn của Trần Tế Xương ta có thể kể đến bài thơ “Đất Vị Hoàng”.

      “Đất vị Hoàng” là bài thơ được viết theo bút pháp trào phúng, qua đó nhà thơ Trần Tế Xương đã thể hiện thái độ phẫn uất, bất bình của mình trước những đổi thay của xã hội, sự đổi thay đó làm mất đi những thứ vốn có, đó là những giá trị, truyền thống tốt đẹp, thay vào đó là cái lối sống nửa tây nửa ta kệch cỡm, lố bịch, đáng lên án. Qua bài thơ ta cũng có thể dễ dàng nhận thấy sự xót xa, đau đớn đọng lại trong từng câu, từng chữ, đó chính là sự đau xót của một con người đầy ý thức, không chấp nhận được sự đổi thay chóng vánh, tiêu cực của xã hội Việt Nam đương thời.

“Có đất nào như đất này không

Phố phường tiếp giáp với bờ sông”

       Mở đầu bài thơ, nhà thơ Trần Xương đã trực tiếp thể hiện thái độ bất bình của mình về một thực trạng xã hội đáng lên án thời kì nhà thơ sinh sống, đó là khi bọn thực dân Pháp xây dựng lối sống tây trên mảnh đất truyền thống văn hiến, sự đổi thay không phù hợp, chóng vánh nên tạo ra sự gượng ép, kệch cỡm đến đau lòng. “Có đất nào như đất này không?” đây có thể hiểu là câu hỏi mà nhà thơ thể hiện sự bất bình của mình, tức là câu hỏi đặt ra cho chính mình, nhằm thể hiện cảm xúc cá nhân. Nhưng hiểu rộng ra, ta lại thấy câu hỏi không chỉ là câu hỏi của cá nhân tác giả mà nó còn là sự bức bối chung của cả một thế hệ, của cả một cộng đồng.

      Phải chăng sự đổi thay quá nhanh đã khiến cho mảnh đất chôn nhau cắt rốn của nhà thơ trở nên xa lạ, tạo ra cho con người một sự xa cách đến ngỡ ngàng. Câu thơ đã thể hiện được sự trăn trở, đau đớn của nhà thơ Trần Tế Xương, bắt nguồn cảm xúc cho toàn bộ bài thơ. “Phố phường tiếp giáp với bờ sông”, nếu như ở câu thơ đầu, ta có thể băn khoăn, không biết mảnh đất nhà thơ sống thay đổi như thế nào mà làm cho nhà thơ đau đón, trăn trở như vậy. Thì đến những câu thơ sau, nhà thơ Trần Tế Xương như có lời giải cho tất cả, đó là sự đổi thay của cảnh vật.

      Trước hết, sự lạ lẫm ở mảnh đất vốn thân quen, đó chính là sự xuất hiện của những phố phường, đây cũng là dấu hiệu của một cuộc sống mới, của nếp sống mới mà người Pháp đang xây dựng ở trong xã hội ta. Thay thế những mái nhà ngói xan xan, những mảnh vườn thưở ruộng cùng với khung cảnh lao động thường nhật thì phố phường xuất hiện làm thay đổi tất cả. Cảnh vật còn xót lại của làng quê, đó chính là dòng sông Vị Hoàng vẫn lặng lẽ chảy, chứng kiến mọi sự đổi thay. Cảnh vật thay đổi, lối sống mới xâm nhập làm đổi thay cuộc sống của con người nơi đây.

      Nhưng qua câu thơ này ta cũng có thể nhận thấy dụng ý của nhà thơ Trần Tế Xương, đó không chỉ là cảnh vật đan xen giữa cái mới và cái cũ, mà đó còn chính là những con người, bên cạnh lối sống nửa tây nửa ta kệch cỡm thì vẫn có những con người thuần Việt bảo vệ những giá trị tốt đẹp còn lại. Vẫn tiếp tục cảm xúc ấy, ở những câu thơ tiếp theo nhà thơ Trần Tế Xương tiếp tục vạch trần cái giả dối, xấu xa của xã hội hiện thời, đó cũng là điều khiến nhà thơ đau lòng nhất, bởi đó không chỉ dừng lại ở sự đổi thay của cảnh vật nữa mà đó là sự thay đổi của con người, là sự suy đồi của các giá trị đạo đức:

“Nhà kia lỗi phép con khinh bố

Nhà nọ chanh chua vợ chửi chồng”

       Việt Nam là một đất nước giàu bản sắc, giàu văn hóa điều đó được thể hiện ngay qua cách sống, cách cư xử giữa con người với con người. Gia đình yêu thương hòa thuận, hàng xóm đoàn kết, giúp đỡ. Nhưng ở đây, ngay trong phạm vi gia đình, giữa những con người ngỡ như không thể chia cắt tình cảm bởi mối quan hệ ruột thịt, máu mủ, đó là vợ chồng, cha con. Nhưng qua hai câu thơ của nhà thơ Trần Tế Xương ta có thể thấy mọi trật tự, mọi luân lí đều bị đảo ngược.

      Xã hội Việt Nam xưa đều vô cùng coi trọng chữ tình, đó chính là sự gắn kết giữa vợ và chồng, tạo nên sự hòa thuận, yên ấm. Ngoài ra còn có chữ hiếu, tức người làm con phải biết kính trọng, yêu thương bậc sinh thành. Nhưng “Nhà kia lỗi phép con khinh bố”, trong một gia đình người con có trách nhiệm yêu thương, phụng dưỡng, sự bỏ bê không quan tâm đã là bất hiếu, đáng lên án, nhưng ở đây đứa con “khinh” bố thì trật tự của gia đình, nề nếp của xã hội đâu còn. Ngay cả người gần gũi nhất, quan tâm chăm sóc hàng ngày còn đổi lại sự khinh thường thì đối với những người trong xã hội đối với anh ta phải chăng là “cỏ rác”.

      “Nhà nọ chanh chua vợ chửi chồng” Không chỉ dừng lại ở đó, con chửi cha mà còn là vợ chửi chồng, mọi thứ đều đi ngược lại với luân lí đạo đức. TRong xã hội Việt Nam vốn đề cao tiết hạnh của người phụ nữ, đó là công – dung- ngôn- hạnh, là “xuất giá tòng phu”, tức sống phải phép với chồng, cũng là trụ cột của gia đình. Nhưng phải chăng khi lối sống mới được đưa vào thì mọi thứ đều bị đảo ngược, nếu con khinh cha mất đi cái nề nếp, gia giáo thì “vợ chửi chồng” lại là sự đổ vỡ của mô hình gia đình trong xã hội. Một gia đình không có sự kính trọng của con cái với bố mẹ, người vợ lấn quyền, chanh chua thì gia đình ấy cũng chỉ là tồn tại cưỡng ép trên hình thức mà thôi.

“Keo cú người đâu như cứt sắt

Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng”

       Đến đây thì mọi sự bức xúc, bực bội như bị vỡ òa, nhà thơ Trần tế Xương đã mạnh mẽ lên án xã hội kệch cỡm, thối nát ấy bằng những từ thông tục nhằm tố cáo mạnh mẽ không chỉ xã hội mà cả những con người suy đồi, nguyên nhân chính tạo ra mọi sự tiêu cực. Con người sống với nhau không còn bằng tình nghĩa, yêu thương nữa mà khô cứng, vô tình, vụ lợi. Từ đó nhà thơ cũng lên án bao thói hư tật xấu này sinh trong xã hội, con người ấy, đó là sự tham lam, tư lợi. TRong xã hội con người chỉ biết đến lợi ích, sống với nhau bằng lí tính thì xã hội đang trên đà suy vong, bởi xét cho cùng cuộc sống như vậy có hơn cuộc sống của những con vật là bao?

“Bắc nam hỏi khắp người bao tỉnh

Có đất nào như đất ấy không?

      Một lần nữa câu hỏi ở đầu bài thơ xuất hiện ở đoạn kết, không còn là sự lên án nữa là là sự trăn trở, đau đớn đến bất lực. Nơi quê hương thân yêu của nhà thơ bị biến đổi đến không còn nhận ra, đối với một con người suốt đời găn bó với quê hương như nhà thơ mà nói thì đó là mất mát không có từ ngữ nào có thể diễn tả.

      Như vậy, bài thơ đất vị hoàng là một bài thơ viết về chính quê hương của nhà thơ Trần Tế Xương, nơi nhà thơ lớn lên, gắn bó với biết bao nhiêu kỉ niệm. Trước sự đổi thay chóng vánh nhà thơ không kiềm nén được sự bất bình, sau những dòng thơ châm biếm sâu cay là sự đau xót khôn nguôi của một con người yêu quê.

Phân tích – Bài mẫu số 2

      Tú Xương là nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam ở thể loại trào phúng, với nghệ thuật tài tình của mình ông đã sáng tác lên những tác phẩm nhầm tố cáo tội ác của chế độ phong kiến mục ruỗng thối nát, một trong những bài thơ đó là Đất Vị Hoàng.

     Với tài năng của mình ông luôn luôn có những tác phẩm hay và để lại nhiều cảm xúc cho người đọc, với giọng thơ chua sót và sâu cay ông đã viết lên tác phẩm để tố cáo những thế lực phong kiến đã chà đạp lên quyền sống của con người, ông luôn luôn đề cao tinh thần vì dân vì nước. Mở đầu bài thơ tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ, bằng cách  đặt ra câu hỏi về một vừng đất khác lạ với thường ngày:

“Có đất nào như đất ấy không

Nhà kia lỗi phép con khinh

Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng”.

     Một xã hội mục ruỗng thối nát có nhưng sự việc trái với luân thường đạo lý trong cuộc đời, con cái thì bất hiếu với cha mẹ, sống trong một xã hội có sự loạn lạc và bao trùm cả những hành động sai trái như vùng đất Vị Hoàng này đã phần nào nói lên những tội ác mà xã hội phong kiến đã gây ra nó là một xã hội không có một tôn ti trật tự, sự bất ổn trong xã hội đã tạo nên những cảnh đời éo le và những cảnh sai trái với luân thường đọa lí, con cái thì bất hiếu với cha mẹ, vợ thì đang bất hòa với chồng, một xã hội loạn lạc với bao nhiêu điều xảy ra thể hiện một vùng đất có những bất ổn về cảnh đời, nó đang  dồn nén và làm xấu đi một vùng đất tươi đẹp của cả một dân tộc Việt Nam. Đây là một bức tranh hiện thực đầy sự phê phán, một  vùng đất tươi đẹp của quê hương giờ đây biến thành một vùng đất với bao sự khinh bỉ với một trật tự bị đảo lộn. Qua đây tác giả nhầm phê phán và tố cáo tội ác của chế độ phong kiến tàn ác đã gây ra những hậu quả này.

“Keo cú người đâu như cứt sắt,

Tham lam chuyện thở những hơi đồng”

     Ở đây còn xuất hiện những con người tham lam, keo cú và những con người xấu xã trong xã hội, ki bo ke kiệt đã bộc lộc rõ trong những con người ở vùng đất này, một vùng đất với bao nhiêu những tiêu cực trong xã hội, keo cú ở đây thể hiện những con người hôi hám, bần tiệt xấu xa, tham lam để nói những con người chỉ lúc nào cũng muốn phần hơn,tham lam tới mức thở ra những hơi đông, thở đó là điều tự nhiên để con người có thể tồn tại và phát triển, nhưng ở đây tác giả lại miêu tả là thở ra những hơi đồng. Ở đây những con người này thật đáng khinh bỉ, và xấu xa trong xã hội, chỉ vì những đồng tiền mà học làm tha hóa về đạo đức về lối sống của mình, những đồng tiền làm mờ mắt làm mất đi những phẩm chất tốt đẹp của con người đáng nhẽ sinh ra ai cũng đều có.

“Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh

Có đất nào như đất ấy không?”

      Tác giả đã thể hiện tiếng cười trào phúng sâu sắc qua hai câu kết, mở đầu bài thơ tác giả cũng sử dụng câu có đất nào như đất này không và đến câu kết tác giả cũng sử dụng lại câu hỏi tu từ này, điều đó nhấn mạnh vùng đất này đã bị chế độ phong kiến tàn ác bôi nhọ đi những điều tốt đẹp mà nó bị tha hóa bởi tội ác của những đồng tiền dơ bẩn và có những tội ác không thể nào mà rửa sạch được. Cái xâu cái ác đã trở thành nỗi đau nỗi nhục của vùng đất này, một xã hội phong kiến đang tha hóa những con người lương thiện, vùng đất có nhiều tội ác và cả những con người tham lam, bần tiền, đáng ghê sợ nhất trong xã hội này.

      Với nghệ thuật tài ba của mình Tú Xương đã tố cáo chế độ phong kiến tàn ác bằng những giọng điệu thâm cay, chua sót, nó tố cáo và góp phần tạo nên những tiếng cười có giá trị trào phúng sâu sắc, tác giả đã rất tài ba khi nói lên một hiện thực xã hội có rất nhiều những tàn ác và cả những cám dỗ bởi sức mạnh của đồng tiền đã cướp đi quyền sống, quyền làm người của những con người, một trật tự trong xã hội bị đảo lộn cùng vào đó là một xã hội với bao nhiêu tội ác ủa vây. Con người nơi đây đang sống mà hình như không được sống bởi tội ác của nó khá lớn và sống chưa thực sự là sống.

     Tú Xương  là 1 nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam, với những sáng tác về thể loại  thơ trào phúng, với giọng điệu thơ chua cay, phong cách thơ của ông đã có đóng  góp lớn trong phong trào thơ trào phúng của dân tộc qua đó đã góp phần phê phán những thế lực phong kiến tàn ác, phê phán những thế lực tàn ác trong xã hội cũng, những thói lố lăng đồi bại.

Đăng bởi: THPT Ninh Châu

Chuyên mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button