GDCDLớp 10

Chất và ví dụ về chất | GDCD 10

Câu hỏi: Thế nào là chất của sự vật và hiện tượng? Cho ví dụ?

Trả lời:

Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng, đó là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính, những yếu tố cấu thành sự vật, hiện tượng, nói lên sự vật, hiện tượng đó là gì, phân biệt nó với các sự vật, hiện tượng khác.

Bạn đang xem: Chất và ví dụ về chất | GDCD 10

Ví dụ: Sắt là nguyên tố hóa học có ký hiệu là Fe, số nguyên tử bằng 26, phân nhóm 2, chu kỳ 4. Những thuộc tính (tính chất) này nói lên chất riêng của sắt, phân biệt nó với các kim loại khác.

Nội dung câu hỏi này nằm trong phần kiến thức về Cách thức vận động phát triển của sự vật và hiện tượng. Hãy cùng THPT Ninh Châu tìm hiểu chi tiết hơn về vấn đề này bạn nhé!

1/ Chất

Khái niệm chất dùng để chỉ những thuộc tính cơ bản, vốn có sự vật và hiện tượng, tiêu biểu cho sự vật và hiện tượng đó, phân biệt nó với các sự vật và hiện tượng khác.                                                                                                                        

[CHUẨN NHẤT] Chất và ví dụ về chất

Chất là sự thống nhất hữu cơ giữa các thuộc tính, các yếu tố cấu thành sự vất, hiện tượng, do đó, mỗi “chất” được tạo thành từ vô số các thuộc tính cơ bản của sự vất, hiện tượng – tùy thuộc vào từng mối liên hệ cụ thể của sự vất, hiện tượng đó với sự vất, hiện tượng khác.

+ Thuộc tính là biểu hiện một khía cạnh nào đó về “chất” của sự vất, hiện tượng trong mối quan hệ qua lại với các sự vất, hiện tượng khác.

Ví dụ: Nguyên tố đồng có nguyên tử lượng là 63,54 đvC, nhiệt độ nóng chảy là 1083, … Những thuộc tính (tính chất) này nói lên chất riêng của đồng, phân biệt nó với các kim loại khác.

+ Mỗi sự vật, hiện tượng đều có những thuộc tính cơ bản và không cơ bản. Chỉ những thuộc tính cơ bản mới hợp thành “chất” của sự vật, hiện tượng. Khi những thuộc tính cơ bản thay đổi thì “chất” của nó thay đổi.

+ Việc phân biệt thuộc tính cơ bản và không cơ bản của sự vật, hiện tượng cũng chỉ là tương đối. Phải tùy theo quan hệ cụ thể của sự phân tích; cùng một thuộc tính, trong quan hệ này là cơ bản thì trong quan hệ khác có thể là không cơ bản.

+ Chất của sự vật, hiện tượng không chỉ được xác định bằng các thuộc tính cơ bản của nó mà còn được xác định bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành sự vật, hiện tượng đó. Do đó, “chất” của sự vật, hiện tượng không chỉ thay đổi khi thay đổi những yếu tố cấu thành nó mà còn phụ thuộc vào sự thay đổi phương thức liên kết giữa các yếu tố đó.

+ Chất biểu hiện tính ổn định tương đối của sự vật, hiện tượng.

Mỗi sự vật, hiện tượng không chỉ có một “chất”, mà có nhiều “chất” – vô vàn “chất”, tùy thuộc vào các mối quan hệ cụ thể của nó với những cái khác

2/ Lượng

Khái niệm lượng dùng để chỉ những thuộc tính vốn có của sự vật và hiện tượng, biểu thị trình độ phát triển (cao, thấp), quy mô (lớn, nhỏ), tốc độ vận động (nhanh, chậm), số lượng (ít, nhiều)… của sự vật và hiện tượng.

Lượng là cái khách quan, vốn có của sự vật, quy định sự vật ấy là nó. Lượng của sự vật không phụ thuộc vào ý chí, ý thức của con người. Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm…

“Những lượng không tồn tại mà những sự vật có lượng hơn nữa những sự vật có vô vàn lượng mới tồn tại” ( Engels )

– Ví dụ: Lượng của một người là chiều cao, cân nặng, hình dáng bên ngoài… hay đối với mỗi phân tử nước, lượng là số nguyên tử tạo thành nó, tức là 2 nguyên tử Hidro và 1 nguyên tử Oxi.

Chất và lượng đều là thuộc tính vốn có của sự vật và hiện tượng, không nằm ngoài sự vật, hiện tượng, cũng không thể có chất tồn tại ngoài lượng và ngược lại.

3/ Mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất

Mỗi sự vật, hiện tượng là sự thống nhất giữa hai cặp đối lập chất và lượng. Hai mặt đối lập không tách rời nhau mà tác động qua lại biện chứng làm cho sự vận động, biến đổi theo cách thức từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất của sự vật và ngược lại. 

3.1. Lượng đổi dẫn đến chất đổi

Khi sự vật đang tồn tại, chất và lượng thống nhất với nhau ở một độ nhất định. Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ giới hạn, trong đó sự thay đổi về lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật ấy. 

VD: Độ tồn tại của nước nguyên chất ở trạng thái lỏng từ 0°C đến 100°C. Trong giới hạn của một độ nhất định, lượng thường xuyên biến đổi còn chất tương đối ổn định. Sự thay đổi về lượng của sự vật có thể làm chất thay đổi ngay lập tức nhưng cũng có thể làm thay đổi dần dần chất cũ. Lượng biến đổi đến một giới hạn nhất định có xu hướng tích luỹ đạt tới điểm nút, nếu có điều kiện sẽ diễn ra bước nhảy làm thay đổi chất của sự vật.  Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà tại đó, sự thay đổi về lượng đã làm thay đổi chất của sự vật.

VD: 0°C và 100°C là điểm nút để nước chuyển sang trạng thái rắn hoặc trạng thái khí (bay hơi). Muốn chuyển từ chất cũ sang chất mới phải thông qua bước nhảy. Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hoá về chất của sự vật do những sự thay đổi về lượng trước đó gây nên. 

VD: một cuộc cách mạng, một kỳ thi, một đám cưới,… Bước nhảy kết thúc một giai đoạn biến đổi về lượng và mở đầu cho một giai đoạn phát triển mới. Đó là gián đoạn trong quá trình vận động liên tục của sự vật, đồng thời là một tiền đề cho một quá trình tích luỹ liên tục về lượng tiếp theo.

3.2. Chất mới ra đời, nó tác động trở lại lượng mới, làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ nhịp điệu của sự vận động phát triển của sự vật:

Như vậy, bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng là sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt chất và lượng. Sự thay đổi về lượng tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất thông qua bước nhảy. Chất mới ra đời sẽ tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới. Quá trình đó liên tục diễn ra, tạo thành phương thức phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, tư duy. 

Đăng bởi: THPT Ninh Châu

Chuyên mục: Lớp 10, GDCD 10

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button