Công NghệLớp 11

Bôi trơn bằng phương pháp pha dầu nhớt vào nhiên liệu được dùng ở động cơ nào?

Đáp án và giải thích chính xác câu hỏi trắc nghiệm “Bôi trơn bằng phương pháp pha dầu nhớt vào nhiên liệu được dùng ở động cơ nào?” cùng với kiến thức lý thuyết liên quan là tài liệu hữu ích môn Công nghệ 11 dành cho các bạn học sinh và thầy cô giáo tham khảo.

Trắc nghiệm: Bôi trơn bằng phương pháp pha dầu nhớt vào nhiên liệu được dùng ở động cơ nào?

A. Động cơ 2 kỳ     

B. Động cơ Điêden   

Bạn đang xem: Bôi trơn bằng phương pháp pha dầu nhớt vào nhiên liệu được dùng ở động cơ nào?

C. Động cơ xăng     

D. Động cơ 4 kỳ

Trả lời:

Đáp án đúng: A. Động cơ 2 kỳ     

Giải thích: Vì động cơ xăng 2 kì dùng để nén hòa khí nên người ta phải dùng dầu nhớt pha vào nhiên liệu giúp bôi trơn nhất định để bám vào bề mặt cần bôi trơn và chảy vào các bề mặt ma sát.

Bổ sung thêm kiến thức cùng THPT Ninh Châu thông qua bài mở rộng về Động cơ hai kỳ dưới đây nhé!

Kiến thức tham khảo về Động cơ 2 kỳ     

1. Khái niệm Động cơ 2 kỳ 

– Động cơ hai kỳ là một loại động cơ đốt trong thường được chế tạo theo kiểu động cơ có pít tông đẩy. Động cơ hai kỳ cần thiết để tạo ra năng lực được hoàn thành trong một vòng quay của trục khuỷu. Một thì là chuyển động của pít tông từ một trạng thái tĩnh theo một hướng về trại thái tĩnh mới (chuyển động từ một điểm chết này về đến điểm chết kia). Trục khuỷu hoàn thành nửa vòng quay trong một kỳ. Loại động cơ diesel  của động cơ hai thì vẫn còn được sử dụng trong tàu hỏa, tàu thủy, các máy phát điện, máy cắt, máy cưa,… Hầu hết chúng đều là những động cơ có công suất nhỏ, tuy có những ngoại lệ như xe Jawa của Tiệp dung tích tới 350 và 360cc, hay như những chiếc ôtô của hãng Audi trước đây .

2. Cấu tạo động cơ hai kỳ 

Buồng đốt, Bugi (nến đánh lửa), đường thải, van lưỡi gà, đường nạp hoà khí vào, hộp trục khuỷu và hoà khí.

3. Nguyên lý hoạt động của động cơ 2 kỳ

Chi tiết nguyên lý hoạt động của động cơ 2 kỳ là như sau:

Kỳ 1

– Pitton sẽ tiến hành di chuyển từ điểm chết trên tới điểm chết dưới trong xi lanh, lúc này nó cũng sẽ tiếp diễn xảy ra các quá trình dãn nở, thải tự do, quét và cuối cùng là thải khí.

– Ở đầu kỳ 1: Vị trí của pitton ở điểm chết trên, khí cháy sẽ tạo ra áp xuất khiến cho pít tông bị đẩy xuống, trục khuỷu lúc này sẽ bị quay và sinh công, nó chỉ dừng lại nếu pit tông mở cửa quét.

– Bắt đầu lúc pitton mở cửa thải tới thời điểm mở cửa quét, khí thải ở bên trong xi lanh sẽ đi qua cửa để thoát ra ngoài.

– Từ lúc pitton mở cửa quét cho tới lúc di chuyển tới điểm chết dưới, hòa khí ở trong cacte sẽ qua đường cửa quét để đi vào xi lanh đẩy khí thải trong xi lanh thoát ra phía ngoài trong nguyên lý hoạt động của động cơ đốt trong.

Bôi trơn bằng phương pháp pha dầu nhớt vào nhiên liệu được dùng ở động cơ nào? (ảnh 2)
Nguyên lý hoạt động của động cơ đốt trong 2 kỳ

Kỳ 2

– Pitton sẽ dẫn động thông qua trục khuỷu đi từ điểm chết dưới lên điểm chết trên trong xi lanh từ đó sẽ xảy ra các quá trình quét thải, lọt khí và cháy.

– Tại thời điểm ban đầu cửa quét, thải vẫn sẽ mở hòa khí tạo sáp suất cao di chuyển cacte qua cửa quét, rồi xi chuyển vào xilanh thông qua của thải để thoát ra ngoài. Nó sẽ chỉ dừng lại khi mà cửa quét đóng.

– Khoảng thời gian từ lúc pitton đóng cửa quét cho tới thời điểm khi cửa thải bị đóng, 1 phần hòa khí ở trong xi lanh sẽ bị thoát ra ngoài.

– Riêng ở khoảng thời gian pitton đóng cửa thải cho tới lúc di chuyển tới điểm chết trên, lúc này quá trình nén kết thúc. Vào giai đoạn cuối kỳ 2, bugi bật tia lửa điện để làm cháy hòa khí xuất hiên bên trong xi lanh.

4. Ưu – nhược điểm của động cơ 2 kỳ

a. Ưu điểm

+ Ưu điểm trên lý thuyết sự khác nhau của một động cơ 2 kỳ là có hiệu suất riêng cao hơn một động cơ 4 kỳ, vì mỗi một vòng quay của trục khuỷu là một thì tạo công.

+Trên thực tế động cơ bốn thì đã rút ngắn khoảng cách này rất nhiều nhờ vào những cải tiến gần đây nên các mô tô hay xe máy có động cơ bốn thì không còn chạy chậm hay có gia tốc chậm hơn hơn loại hai thì nữa. Vận tốc tối đa của pít tông chậm hơn so với động cơ bốn thì vì có các ống dẫn khí trong xilanh, điều này cũng hạn chế hiệu suất của động cơ hai thì.

+ Cách chế tạo đơn giản hơn của động cơ hai thì mang lại nhiều ưu điểm như dễ bảo trì hơn và có khối lượng di động nhỏ hơn rất nhiều so với một động cơ bốn thì tương tự. Hiệu ứng tốt của việc này là mang lại một xung lượng góc nhỏ hơn.

+ Điều này quan trọng trước nhất là ở những mô tô chạy trên nhiều địa hình, ở loại này động cơ hai thì tạo khả năng linh động hơn trong lúc phóng qua vật cản. Động cơ có dung tích lớn hoạt động đa phần theo nguyên tắc hai kì.

b. Nhược điểm

Khí thải của động cơ hai kì có hàm lượng cacbon monoxít và các chất hyđrocacbon cao vì có nhiều nhớt bôi trơn trong khí được hút vào và vì có lượng khí thải trong buồng đốt cao.

5. So sánh động cơ 2 kỳ và 4 kỳ: Những đặc tính kỹ thuật

Tiêu Chí

Động cơ 2 kỳ

Động cơ 4 kỳ

Khái niệm 

– Động cơ 2 kỳ thường là động cơ xăng 2 kỳ, có công suất thấp hoặc được làm để khởi động cho động cơ chính diesel, một số trường hợp động cơ tĩnh tại cũng được sử dụng động cơ diesel 2 kỳ.

– Động cơ 2 kỳ là động cơ đốt trong không có van (xupap), không có hệ thống bôi trơn riêng biệt, kết cấu đơn giản, ít bộ phận và nhẹ. Pittong làm nhiệm vụ đóng mở đường nạp và xả.

– Động cơ 2 kỳ hoạt động với một chu trình công suất (hút – nén – nổ – xả) xảy ra trong hai hành trình của pittong (lên và xuống) tức bằng một vòng quay của trục khuỷu.

– Động cơ 4 kỳ hoạt động với 4 hành trình của pittong (2 chu kỳ pittong) tương đương 2 vòng quay của trục khuỷu để hoàn thành một chu trình công suất. Ở động cơ 4 kỳ, nó có cấu tạo phức tạp hơn và cần có các van (xupap) để đóng/mở cửa xả và nạp. Bên cạnh đó, động cơ 4 kỳ còn có một hệ thống bôi trơn hoàn chỉnh giúp các chi tiết bên trong động cơ lâu bị hao mòn hơn, đạt được tuổi thọ cao hơn.

– Ở động cơ 4 kỳ, mỗi một kỳ sẽ thực hiện bởi một hành trình hoàn chỉnh của pittong. Về nguyên lý thì rất đơn giản nhưng nó lại có cấu tạo phức tạp hơn động cơ 2 kỳ, cần phải có trục cam, xupap…

 

Nguyên lý hoạt động

– Pittong đi từ điểm chết dưới lên điểm chết trên, van lưỡi gà mở, nạp hỗn hợp không khí/ nhiên liệu vào khoang cacte, đồng thời tiến hành việc xả khí xót và nén hỗn hợp hòa khí. Ở cuối hành trình này, bugi đánh lửa đốt cháy nhiên liệu, áp suất tăng lên đẩy pittong đi xuống.

– Pittong từ điển chết trên xuống điểm chết dưới thực hiện hành trình sinh công, đồng thời xả khí thải và nạp hòa khí từ khoang cacte vào trong buồng đốt động cơ. Như vậy, chu trình sinh công suất của động cơ đã hoàn thành và tiếp tục một chu trình mới.

– Động cơ 2 kỳ không có hệ thông bôi trơn cụ thể, bởi vì cácte của nó cần phải làm nhiệm vụ của buồng nén phụ (nạp khí vào trong kỳ nén). Vậy nên, nhiên liệu xăng sử dụng cần được pha trộn với dầu bôi trơn với một tỷ lệ nhất định. Khi hỗn hợp hòa khí tràn vào khoang cácte, làm nhiệm vụ bôi trơn các bộ phận bên trong động cơ. Do cách bôi trơn này không thực sự hiệu quả, nên động cơ 2 kỳ thường dễ hỏng.

– Kỳ 1 – Nạp: Pittong đi từ điểm chết dưới xuống điểm chết trên, xupap nạp mở, xupap xả đóng, hỗn hợp hòa khí vào xylanh.

– Kỳ 2 – Nén: Pittong đi từ điểm chết dưới lên điểm chết trên, cả hai xupap nạp và xả đều đóng lại, hỗn hợp hòa khí được nén trong buồng đốt đến áp suất cao.

– Kỳ 3 – Nổ, sinh công: Cả hai xupap vẫn đóng, khi pittong lên điểm chết trên – trong một vùng lân cận điểm chết trên, bugi bật tia lửa điện, đốt cháy hỗn hợp hòa khí bên trong, áp suất tăng lên nhanh chóng trong buồng đốt, đẩy pittong đi xuống từ điểm chết trên tới điểm chết dưới.

– Kỳ 4 – Xả: Pittong đi từ điểm chết dưới lên điểm chết trên, hỗn hợp đã cháy hoàn toàn được đẩy ra ngoài khi xupap xả mở, xupap nạp đóng, cuối hành trình xả, xupap nạp mở và chuẩn bị cho một chu trình công suất tiếp theo.

Ưu điểm

– Cấu tạo đơn giản, không có xupap.

– Cháy một lần cho mỗi vòng quay, có nghĩa rằng công suất đầu ra lớn hơn động cơ 4 kỳ.

– Chi phí sản xuất thấp.

– Động cơ 2 kỳ có tiềm năng cho công suất gấp hai lần so với động cơ 4 kỳ có cùng dung tích (thực tế chỉ bằng 1.5 lần).

– Dễ dàng bảo trì, sửa chữa.

– Nhiều momen xoắn hơn, động cơ êm và đáng tin cậy hơn.

– Tuổi thọ cao hơn động cơ 2 kỳ.

– Không cần phải trộn lẫn dầu với nhiên liệu.

– Chạy sạch hơn động cơ 2 kỳ, ít gây ô nhiễm hơn.

– Tiết kiệm nhiên liệu.

Nhược điểm

– Tuổi thọ ngắn hơn động cơ 4 kỳ do không có hệ thống bôi trơn cụ thể.

– Cần pha trộn nhiên liệu và dầu để bôi trơn động cơ nên sẽ tốn dầu bôi trơn hơn, cháy kém hiệu quả.

– Tiêu hao nhiều nhiên liệu.

– Động cơ 2 kỳ sinh ra rất nhiều khói nên gây ô nhiễm môi trường hơn.

– Hỗn hợp không khí, nhiên liệu bị rò rỉ ra ngoài ống xả.

– Thiết kế phức tạp.

– Cơ cấu phối khí xupap thiết kế phức tạp, khó sửa chữa/khắc phục sự cố hơn.

– Công suất chỉ bằng một nửa so với động cơ 2 kỳ cùng dung tích (theo lý thuyết).

– Nhiều bộ phận hơn, chi phí sản xuất và sửa chữa đắt hơn.

– Cấu tạo phức tạp hơn nên động cơ này nặng hơn nhiều.

Đăng bởi: THPT Ninh Châu

Chuyên mục: Lớp 11, Công Nghệ 11

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button