Lịch SửLớp 11

Bài học rút ra từ Chiến tranh thế giới thứ hai

Câu hỏi: Bài học rút ra từ Chiến tranh thế giới thứ hai

Trả lời:

Sự tàn phá nghiêm trọng của Chiến tranh thế giới thứ hai chúng ta rút được nhiều bài học:

Bạn đang xem: Bài học rút ra từ Chiến tranh thế giới thứ hai

+ Cần có 1 tổ chức duy trì hòa bình của thế giới 

+ Nếu có mâu thuẫn hay xung đột thì cần giải quyết trên bàn đàm phán

+ Hợp tắc kinh tế, bắt tay nhau xây dựng 1 thế giới hòa bình, ổn định, phát triển vững mạnh 

+ Thay cho các khoản chi phí về quân sự ta có thể dùng số tiền đó cho người nghèo, khó khăn, khuyết tật, những người cần giúp đỡ 

+ Các nước cần có cách chiến lược ngoại giao hợp lí để tránh xảy ra các mâu thuẫn không đáng có 

+ Có thể mở ra các hoạt động cộng đồng để thắt chặt mối quan hệ giữa các nước

Cùng THPT Ninh Châu tìm hiểu về Chiến tranh thế giới thứ hai các em nhé!

I. Con đường dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai

1. Các nước phát xít đẩy mạnh chính sách xâm lược (1931 – 1937)

– Đầu những năm 30, các nước phát xít Đức, I-ta-li-a và Nhật Bản liên kết thành liên minh phát xít (Trục Béc-lin – Rô-ma – Tô-ki-ô), tăng cường các hoạt động quân sự và gây chiến tranh xâm lược ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới:

+ Nhật xâm lược Trung Quốc;

+ I-ta-li-a xâm lược Ê-ti-ô-pi-a (1935), cùng với Đức tham chiến ở Tây Ban Nha (1936 – 1939), hỗ trợ lực lượng phát xít Phran-cô đánh bại chính phủ Cộng hoà.

+ Đức xé bỏ hoà ước Vec-xai, hướng tới mục tiêu lập một nước “Đại Đức” bao gồm tất cả các lãnh thổ có dân Đức sinh sống ở Châu Âu.

+ Liên Xô chủ trương liên kết với Anh, Pháp để chống phát xít và nguy cơ chiến tranh nhưng bị từ chối.

+ Anh, Pháp, Mỹ đều muốn giữ nguyên trật tự thế giới có lợi cho mình. Anh, Pháp thực hiện chính sách nhượng bộ phát xít để đẩy chiến tranh về phía Liên Xô. Mĩ với “Đạo luật trung lập (1935) không can thiệp vào các sự kiện bên ngoài châu Mĩ.

+ Các nước phát xít đã lợi dụng tình hình đó để thực hiện mục tiêu gây chiến tranh xâm lược của mình.

Hội nghị Munich

2. Từ hội nghị Muy -ních đến chiến tranh thế giới:

a. Hội nghị Muy ních:

– Hoàn cảnh triệu tập:

+ 3/1938,  Đức  thôn  tính  áo. Sau đó, Hít le gây ra vụ xuy -đét nhằm thôn tính Tiệp Khắc.

+ Liên Xô kiên quyết giúp Tiệp Khắc chống xâm lược.

+ Anh -Pháp tiếp tục thoả hiệp, yêu cầu chính phủ Tiệp Khắc nhượng bộ Đức

→ Do đó, 29/9/1938, Hội nghị Muy nich được triệu tập gồm đại diện 4 nước Anh, Pháp, Đức, I- ta – li – a.

– Nội  dung: Anh-Pháp  ký hiệp định trao vùng xuy -đét của Tiệp Khắc cho Đức. Đổi lại, Đức cam  kết chấm dứt mọi cuộc thôn tính ở Châu Âu.

– Ý nghĩa:

+ Hội nghị Muy nich là đỉnh cao của chính sách dung túng, nhượng bộ phát xít của Mỹ -Anh -Pháp.

+ Thể hiện âm mưu thống nhất của chủ nghĩa đế quốc (kể cả Anh -Pháp -Mỹ và Đức -Italia -Nhật Bản) trong việc tiêu diệt Liên Xô.

b. Sau khi hội nghị Muy nich:

– Đức đưa quân thôn tính toàn bộ Tiệp Khắc (03/1939)

– Tiếp đó, Đức gây hấn và chuẩn bị tấn công Ba Lan.

– 23/8/1939 Đức ký với Liên Xô “hiệp ước Xô-Đức không xâm lược nhau”

→ Như vậy, Đức đã phản bội lại hiệp định Muy nich, thực hiện mưu đồ thôn tính Châu Âu trước rồi mới dốc toàn lực đánh Liên Xô.

II. Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ và lan rộng ở châu Âu (Từ tháng 09/1939 đến tháng 06/1941)

1. Phát xít Đức tấn công Ba Lan và xâm chiếm Châu Âu (từ tháng 09/1939 đến tháng 09/1940)  

– Ngày 01/09/1939, Đức tấn công Ba Lan. Anh, Pháp tuyên chiến với Đức. Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu.

– Tháng 04/1940, Đức tấn công sang phía Tây, chiếm Đan Mạch, Na-uy, Bỉ, Phần Lan, Lúc-xăm-bua và Pháp. Tấn “thảm kịch” nước Pháp “Quân Đức tiến vào Pari”.

– Tháng 7- 1940, kế hoạch tấn công nước Anh không thực hiện được.

Sau khi chọc thủng phòng tuyến Maginô ở miền Bắc nước Pháp, ngày 05/6/1940, quân Đức tiến về phía Pari như bão táp. Chính phủ Pháp tuyên bố “bỏ ngỏ” thủ đô và chạy về Boóc – đo, một bộ phận do tướng Đờ Gôn cầm đầu bỏ đất Pháp ra nước ngoài, dựa vào Anh, Mĩ tiến hành cuộc kháng chiến chống Đức. Bộ phận còn lại do Pêtanh đứng ra lập chính phủ mới, ngày 22/6/1940 kí với Đức hiệp ước đầu hàng nhục nhã (Pháp bị tước vũ trang, hơn 3/4 lãnh thổ Pháp bị Đức chiếm đóng và Pháp phải nuôi toàn bộ quân đội chiếm đóng Đức).

Bài học rút ra từ Chiến tranh thế giới thứ hai (ảnh 2)

2. Phe phát xít bành trướng Đông và Nam Âu (từ tháng 9/1940 đến tháng 6/1941)

Thời gian

Diễn biến chiến sự

Tháng 10/1940

– Đức chuyển sang thôn tính các nước Đong và Nam Âu.

⇒ Đến mùa hè năm 1941, phe phát xít đã thống trị phần lớn châu Âu. Đức đã chuẩn bị xong điều kiện tấn công Liên Xô.

III. Chiến tranh lan rộng khắp thế giới (từ tháng 6-1941 đến tháng 11-1942)

1. Phát xít Đức tấn công Liên Xô. Chiến sự ở Bắc Phi.

 

Thời gian

Diễn biến chiến sự

Mặt trận Xô – Đức 22/6/1941 – Đức tấn công Liên Xô. Với ưu thế về vũ khí và kinh nghiệm tác chiến ⇒ quân Đức tiến sâu vào lãnh thổ Liên Xô.
Tháng 12/1941

– Nhân dân Liên Xô làm nên chiến thắng Mát-xcơ-va

⇒ Chiến lược “chiến tranh chớp nhoáng” của Đức bị phá sản.

Mùa hè năm 1942 – Đức tấn công phía Nam Liên Xô, với mục tiêu chủ yếu là đánh chiếm Xta-lin-grat. Tuy nhiên, Đức không đạt được mục đích này.
Mặt trận Bắc Phi Tháng 10/1941 Liên quân Mĩ – Anh giành thắng lợi trong trận En A-la-men, giành lại ưu thế trên mặt trận Bắc Phi, thực hiện phản công trên toàn mặt trận.

2. Chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ

Thời gian

Diễn biến chiến sự

7/12/1941

– Nhật bất ngờ tấn công hạm đội Mỹ ở Trân Châu Cảng.

⇒ Chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ.

Từ 12/1941 đến 5/1942,

– Nhật Bản mở một loạt cuộc tấn công và chiếm được một vùng rộng lớn ở Đông á, Đông Nam Á và Thái Bình Dương.

Bài học rút ra từ Chiến tranh thế giới thứ hai (ảnh 3)

3. Khối đồng minh chống phát xít hình thành.

– Nguyên nhân:

+ Hành động xâm lược của phe phát xít trên toàn thế giới đã thúc đẩy các quốc gia cùng  phối hợp với nhau trong một liên  minh chống phát xít.

+ Việc Liên Xô tha chiến đã cổ vũ mạnh mẽ cuộc kháng chiến của nhân dân các nước bị phát xít chiếm đóng, và khiến cho Mỹ -Anh thay đổi thái độ, bắt tay cùng Liên Xô chống chủ nghĩa phát xít.

– Sự thành lập: 01/1/1942, 26 nước (đứng đầu là  Liên  Xô,  Mỹ, Anh) ra Tuyên ngôn cam kết cùng nhau tiến hành cuộc chiến đấu chống phát xít. Khối Đồng minh chống phát xít được thành lập.

– Ý  nghĩa: Việc Liên Xô tham chiến và sự ra đời của khối Đồng minh chống phát xít làm cho tính chất của CTTG II thay đổi, trở thành một cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít, bảo vệ hòa bình nhân loại.

IV. Quân đồng  minh chuyển sang phản công. Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc (từ tháng 11/1942  đến tháng 9/1945)

1. Quân đồng minh phản công (từ tháng 11/1942 đến tháng 6/1944).

– Ở mặt trận Xô-Đức:

+ Từ 11/1942 đến 2/1943, Hồng quân Liên Xô phản công, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ đạo quân tinh nhuệ gồm 33 vạn người của phát xít Đức ở Xtalingrat.

+ Ý  nghĩa: Đánh dấu bước ngoặt của chiến tranh thế giới, buộc quân Đức phải chuyển từ tấn công sang  phòng ngự, mở ra thời kỳ Liên Xô  và phe Đồng minh chuyển sang tổng tấn công đồng loạt trên các mặt trận.

+ Cuối tháng 8/1943, Hồng quân bẻ gãy cuộc phản công của Đức tại vòng  cung  Cuôcxcơ, đánh tan 50 vạn quân Đức.

+ 6/1944, phần lớn lãnh thổ Liên Xô được giải phóng.

+ Ở mặt trận Bắc phi: Từ tháng 3 đến tháng 5/1943, liên quân Mỹ -Anh  phản công quét sạch quân Đức-Italia khỏi Châu phi. Chiến sự ở Châu phi chấm dứt.

+ Ở Italia: 7/1943 đến 5/1945, liên quân Mỹ -Anh tấn công truy kích  quân phát  xít, làm cho chủ nghĩa phát xít Italia bị sụp đổ, phát xít Đức phải khuất phục.

+ Ở Thái Bình Dương:  Sau chiến thắng quân Nhật trong trận Gua-đan-ca-nan (1/1943) Mỹ chuyển sang phản công đánh chiếm các đảo ở Thái Bình Dương.

2. Phát xít Đức bị tiêu diệt. Nhật Bản đầu hàng. Chiến tranh kết thúc

a. Phát xít Đức bị tiêu diệt

– Sau khi giải phóng các nước Trung và Đông Âu (1944), tháng 1/1945, Hồng quân Liên Xô mở cuộc tấn công Đức ở Mặt trận phía Đông, tiến quân vào giải phóng các nước ở Trung và Đông Âu, tiến sát biên giới nước Đức.

– Tháng 2/1945, Liên Xô tổ chức hội nghị Ianta gồm 3 nước Liên Xô, Mĩ, Anh bàn về việc tổ chức lại thế giới sau chiến tranh.

– Hè 1944, Mĩ, Anh mở Mặt trận thứ hai ở Tây Âu bằng cuộc đổ bộ tại Noóc-măng-đi (miền Bắc Pháp) tiến vào giải phóng Pháp, Bỉ, Hà Lan, chuẩn bị tấn công Đức.

– Từ tháng 02 đến tháng 04/1945, Liên Xô tấn công Béc-lin, đánh bại hơn 1 triệu quân Đức.

– Ngày 30/04, lá cờ đỏ búa liềm được cắm trên nóc toà nhà Quốc hội Đức. Ngày 09/05/1945, nước Đức kí văn bản đầu hàng không điều kiện. Chiến tranh chấm dứt ở Châu Âu

V. Kết cục của chiến tranh thế giới thứ hai

a, Toàn cảnh thế giới sau chiến tranh thế giới thứ hai

– Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với sự sụp đổ hoàn toàn của phát xít Đức, I-ta-li-a, Nhật.

– Thắng lợi vĩ đại thuộc về các dân tộc trên thế giới đã kiên cường chiến đấu chống chủ nghĩa phát xít.

– Liên Xô, Mĩ, Anh là lực lượng trụ cột, giữ vai trò quyết định trong việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít.

– Hơn 70 quốc gia với 1700 triệu người đã bị lôi cuốn vào vòng chiến, khoảng 60 triệu người chết, 90 triệu người bị tàn phế, thiệt hại vật chất 4000 tỉ đô-la.

– Chiến tranh kết thúc đã dẫn đến những biến đổi căn bản của tình hình thế giới.

Bài học rút ra từ Chiến tranh thế giới thứ hai (ảnh 4)
Hồng quân Liên Xô cắm cờ chiến thắng trên nóc tòa nhà Quốc hội Đức ngày 9/5/1945
Bài học rút ra từ Chiến tranh thế giới thứ hai (ảnh 5)
Đức đầu hàng

b. Nhật bị tiêu diệt

– Mặt trận Thái Bình Dương, từ năm 1944, liên quân Mĩ, Anh tấn công đánh chiếm Miến Điện và quần đảo Phi-líp-pin.

– Ngày 06/08-1945, Mĩ ném quả bom nguyên tử xuống Hi-rô-si-ma làm 8 vạn người thiệt mạng. Ngày 08/08, Liên Xô tuyên chiến với Nhật và tấn công đạo quân Quan Đông gồm 70 vạn quân Nhật ở Mãn Châu. Ngày 09/08, Mĩ ném tiếp quả bom nguyên tử thứ hai huỷ diệt thành phố Na-ga-da-ki, giết hại 2 vạn người. Ngày 15/08, Nhật Bản chấp nhận đầu hàng không điều kiện. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc.

Về vai trò của Liên Xô, Mĩ, Anh trong việc tiêu diệt phát xít Nhật (xét phạm vi thời gian 1944 – 1945): Liên Xô, Mĩ, Anh đều là lực lượng trụ cột, giữ vai trò quyết định trong việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít Nhật. Cuộc tấn công của Mĩ, Anh ở khu vực chiếm đóng của Nhật ở Đông Nam Á đã thu hẹp dần thế lực của phát xít Nhật. Việc quân Mĩ uy hiếp, đánh phá các thành phố lớn của Nhật bằng không quân, đặc biệt việc Mĩ ném 2 quả bom nguyên tử xuống Nhật Bản đã có tác dụng lớn trong việc phá hủy lực lượng phát xít Nhật cả về vật chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận việc Mĩ ném 2 quả bom nguyên tử xuống Nhật Bản là một tội ác, reo rắc thảm họa chết chóc kinh hoàng cho nhân dân Nhật Bản.

Đăng bởi: THPT Ninh Châu

Chuyên mục: Lớp 11, Lịch Sử 11

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button